Thỏa hiệp án 14/9/1946
Dưới đây là nguyên văn ‘Thỏa hiệp án’ hay Tạm ước 14/9/46, được tờ báo Nam Kỳ số ra ngày 23/9/46, đăng lại như sau:
Nguyên văn bản Thỏa Hiệp Án:
Làm tại Paris ngày 14 Septembre 1946:
Thay mặt chính phủ lâm thời Pháp:
Tổng trưởng Pháp quốc hải ngoạị
Ký tên:
Marius Moutet
Thay mặt chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam: Chủ tịch
chính phụ
Ký tên:
Hồ Chí Minh.
Công nhận đúng theo bổn thảọ
Tổng thơ ký Ủy ban Ðông Dương
Ký tên:
Messmer
‘Toàn thể các điều dự định trong bản thỏa hiệp án nầy, làm thành hai bản, sẽ được đem ra thi hành vào ngày 30 Oct 1946.
Ðiều thứ I:
Kiều dân VN ở Pháp và kiều dân Pháp ở VN, sẽ được tự do sanh cư y như người bổn quốc, cùng những quyền tự do phát biểu, giáo dục, thương mại, thông hành. Tóm lại là tất cả tự do dân chụ
Ðiều thứ II:
Sản nghiệp và xí nghiệp Pháp ở VN, sẽ không đặt dưới một chế độ gắt gao hơn chế độ dành cho sản nghiệp và xí nghiệp của người VN, nhứt là về thuế vụ và lao động pháp chệ Sự bình đẳng về quy điều này, sẽ được nhìn nhận bằng danh nghĩa đãi ngộ lẫn nhau, cho sản nghiệp và xí nghiệp của kiển dân VN, trong các lãnh thổ Pháp quốc hải ngoạị Quy điều sản nghiệp và xí nghiệp Pháp ở VN, chỉ được sửa đổi bằng sự thỏa hiệp chung giữa Cộng hòa Pháp và Cộng hòa dân chủ VN.
Tất cả sản nghiệp Pháp bị chính phủ VN trưng thâu mà những tài chủ, hoặc những xí nghiệp bị nhà cầm quyền VN làm cho họ trở nên trắng tay, sẽ được quy hoàn cho những chủ nhơn và những người có quyền nhận lãnh.
Một ủy ban Pháp Việt sẽ được đề cử để quy định các thể thức quy hoàn nầỵ
Ðiều thứ III:
Cho được phục hồi ngay bây giờ cuộc văn hóa giao tế mà Pháp Việt đồng muốn khuếch trương, các học đường Pháp, một vài đẳng cấp sẽ được tự do dạy ở VN.
Những học đường ấy sẽ áp dụng các chương trình chính thức Pháp. Về sau sẽ do hiệp định riêng mà chọn lựa những tòa nhà thích ứng cho sự dạy học của các học đường, những trường, những khoa học viện ở toàn cõi VN. Kiều dân VN ở Pháp cũng được hưởng y đặc quyền nàỵ Y viện Pasteur sẽ được phục hồi quyền lực và sản nghiệp của mình. Một ủy ban Pháp Việt sẽ quy định những điều kiện cho trường Viễn Ðông Bác Cổ hoạt động lạị
Ðiều thứ IV:
Mỗi khi có cần dùng những nhà cố vấn kỹ thuật và chuyên môn, thì chính phủ Cộng hòa Dân Chủ VN, phải gọi đến Pháp kiều trước nhứt. Ðặc quyền ban cho Pháp kiều chỉ không có hiệu lực là khi nào nước Pháp không thể cung ứng nhân viên mà VN yêu cầụ
Ðiều thứ V:
Liền sau khi giải quyết vấn đề điều chỉnh tiền tệ, hiện thời chỉ có một thứ bạc chung đem ra xài trong các lãnh thổ thuộc quyền chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ VN, và các lãnh thổ khác ở Ðông Dương. Thứ bạc ấy, chính là đồng bạc Ðông Dương, do nhà băng Ðông Dương phát hành hiện thời, để chờ lập ra một phát ngân viện. Ðiều lệ của cơ quan phát hành viện, sẽ do một Ủy ban Pháp Việt nghiên cứụ Các nước có chơn trong liên bang, sẽ có đại biểu trong đọ Ủy ban nầy còn có phận sự liên lạc tiền tệ và các sự mậu dịch. Ðồng bạc Ðông Dương được xài trong khu vực đồng phật lăng (francs).
Ðiều thứ VI:
VN sẽ cùng các xứ khác trong liên bang Ðông Dương, tạo thành một liên hiệp quan thuệ Tuy vậy, trong xứ sẽ không có một bức tường quan thuế nào cạ Việc xuất nhập lãnh thổ Ðông Dương đều dùng chung định giạ Một ủy ban liên lạc thương chánh và ngoại thương, cũng giống như ủy ban liên lạc tiền tệ và mậu dịch, sẽ nghiên cứu các biện pháp thi hành cần thiết và chuẩn bị tổ chức thương chánh ở Ðông Dương.
Ðiều thứ VII:
Một ủy ban Pháp Việt liên lạc về giao thông, sẽ nghiên cứu các biện pháp chánh để khôi phục và cải thiện cuộc thông thương giữa VN và các xứ khác trong liên bang Ðông Dương và Liên hiệp Pháp: vận tải đường bộ, đường biển, đường hàng không, sự thông gởi bằng bưu chánh, dây nói, điện tuyến và vô tuyến điện.
Ðiều thứ VIII:
Trong khi chờ đợi sự thành lập của bản hiệp ước hoàn toàn giải quyết xong vấn đề ngoại giao của nước VN với những nước khác, một ủy ban Pháp Việt sẽ định đoạt những điều giải hầu bảo đảm việc VN đặt lãnh sự ở các lân bang, và cuộc giao thiệp giữa lãnh sự ấy với các lãnh sự ngoại quốc.
Ðiều thứ IX:
Tha thiết bảo đảm càng sớm chừng nào càng hay chừng ấy, ở Nam Bộ và miền Nam Trung Kỳ, sự khôi phục một trật tự công cộng vừa cần thiết cho nguyện vọng tự do về các quyền tự do dân chủ vừa vãn hồi, và nhận định những phản động lực may mắn phát do sự ngưng những hành động xung đột và bạo động của đôi bên.
Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng Hòa VN, đồng thảo các biện pháp sau đây:
ạ. Ðôi bên chấm dứt tất cả những hành động xung đột và bạo động.
b. Những hiệp định của các bộ tham mưu Pháp Việt, sẽ quy định các điều kiện thi hành và kiểm soát những biện pháp quyết định chung.
c.Những tội phạm hiện còn bị giam cầm về nguyên do chính trị, sẽ được thả ra, chỉ trừ những kẻ bị truy tố về hình sự và thường phạm (droit commun). Với những tù binh bắt được trong các cuộc hành quân, cũng sẽ quy định y như thệ VN đảm bảo không truy tố bất cứ người nào đã cộng tác hoặc trung thành với Pháp quốc, và chẳng dung tha bất cứ bạo hành nào chống những kẻ ấỵ Bù lại, chính phủ Pháp cũng đảm bảo không truy tố bất cứ người nào cộng tác với VN, và không dung tha bất cứ bạo hành nào chống lại kẽ ấỵ
d.Việc hưởng các quyền tự do dân chủ giải thích ở điều khoản thứ I, sẽ được đôi bên đảm bảo lẫn nhaụ
ẹ. Sẽ chấm dứt những sự tuyên truyền bất hữu ái của đôi bên.
f.Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng hòa Dân Chủ VN, sẽ cộng tác với nhau, để làm cho kiều dân các nước nghịch cũ, không làm hại gì được nữạ
g.Một nhân vật do chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ VN đề cử, và được chính phủ Pháp công nhận, sẽ được gởi tới bên Thượng sứ Pháp, để cộng tác và thi hành những điều thỏa thuận nầỵ
Ðiều thứ X:
Chính phủ Cộng hòa Dân chủ VN, đồng ý chung tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị, và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn.
Cuộc thương thuyết sẽ tiếp tục về mục đích nầy sớm chừng nào càng hay, và trễ lắm là vào tháng Janvier 1947.
Ðiều thứ XI:
Toàn thể những điều khoản trong ‘Thỏa hiệp án’ nầy chia làm hai bản, sẽ được thi hành vào ngày 30 Octobre 1946.’
(theo Gs Hua Hoanh)
s
mardi 31 juillet 2007
HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6/3/1946
HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6/3/1946
(ký kết giữa Hồ Chí Minh & Vũ Hồng Khanh với Sainteny)




s
***********
Hiệp định sơ bộ Xuân Bính Tuất
Minh Võ
Jean Sainteny, người ký với Hồ Chí Minh hiệp định sơ bộ Xuân Bính Tuất
Mùa Xuân năm Bính Tuất, cách nay đúng một chu kỳ 60 năm theo âm lịch, đã có 2 hiệp ước quan trọng liên quan đến vận mệnh Việt Nam. Thứ nhất là hiệp ước Pháp Hoa ký ngày 28/2/1946, theo đó Trung Hoa thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Đổi lại, Pháp bỏ tô giới ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, bán lại đường hoả xa Vân Nam, và sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương.
Với hiệp ước này, quân Pháp vào Bắc Việt qua hải cảng Hải Phòng, thay thế quân Trung Hoa làm nhiệm vụ tiếp quản Đông Dương, theo quy định của hiệp ước Potsdam ký kết gũa các đại cường sau thế chiến 2, bất chấp cái gọi là tuyên ngôn Độc Lập và chính phủ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Và như vậy chiến tranh chắc chắn bùng nổ ngay, nếu không có một thoả thuận giữa Pháp và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Jean ROGER (bí danh Jean SAINTENY, 1907-1978)
Nguồn: site.voila.fr
--------------------------------------------------------------------------------
Vì thế mới có hiệp định sơ bộ (convention préléminaire) mồng 6 tháng 3 năm 1946 (đầu năm Bính Tuất). Hiệp định này đã được ký kết một cách hết sức khẩn trương, sau nhiều tháng thương thuyết cam go giữa Hồ Chí Minh và đại diện Pháp quốc là Jean Sainteny. Cuộc thương thuyết kéo dài gần 6 tháng, sao lại nói là khẩn trương? Kéo dài vì hai bên đều kỳ kèo bớt một thêm hai, bên nào cũng muốn lợi về phần mình. Còn khẩn trương vì tính từ khi hiệp ước Pháp Hoa được ký (ngày 28/2/46) cho đến khi hiệp định sơ bộ ra đời chỉ vẻn vẹn có 1 tuần. Nếu kéo dài thêm nữa, khó tránh chiến tranh, là điều lúc ấy Hồ Chí Minh chưa sẵn sàng.
Hiệp định đó đã mang chữ ký của 2 người, đồng thời có thêm chữ ký của một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng là Vũ Hồng Khanh, với tư cách là “đại biểu đặc biệt của hội đồng bộ trưởng” (chính phủ Liên Hiệp). Ông Khanh, ký vì mắc mưu của cáo già HCM, sau này bị các đồng chí phê bình và trở thành nguồn chia rẽ giữa Quốc Dân đảng trong một thời gian.
Hiệp định có 3 điều khoản và một phụ ước. Hai đều chính yếu trong 3 điều khoản này là:
Thứ nhất: Chính phủ Pháp nhìn nhận Việt Nam là một nước tự do có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp.
Thứ hai: Chính phủ Việt Nam ưng thuận sẵn sàng đón rước quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa, theo hiệp ước quốc tế quy định.
Mặc dầu bên cạnh chữ ký của Hồ Chí Minh, Cộng Sản, còn có chữ ký của một lãnh tụ Việt Quốc, các đảng phái quốc gia lúc ấy cực lực chống đối hiệp định này, vì nó chỉ công nhận VN là một nước tự do trong liên hiệp Pháp, chứ không phải độc lập hoàn toàn. Nó cũng không xác định quyền VN có quân đội riêng và chính sách ngoại giao độc lập. Nhưng bút sa gà chết, Việt Nam Quốc Dân Đảng há miệng mắc quai.
Đó là cái tài xảo trá của ông Hồ. Ông ta đã bằng mọi cách cố đạt được một thoả hiệp với người Pháp để đuổi khéo quân đội Trung Hoa Quốc Gia, lúc ấy quân số lên đến 200.000 do các tướng Tiêu Văn và Lư Hán cầm đầu, và là lực lượng triệt để ủng hộ các đảng quốc gia. Như vậy cũng chẳng khác gì chặt bỏ một hậu thuẫn mạnh của phe quốc gia. Từ đó ông Hồ có thể dùng chính quân đội Pháp để diệt các đảng quốc gia, là đối thủ của ông ta.
Mục đích thứ hai mà ông Hồ đạt được với hiệp định này là được một cường quốc Tây Phương gián tiếp công nhận chính phủ của ông ta là chính phủ duy nhất của Việt Nam.
Ngày nay gẫm lại bài học quá khứ, các đảng phái quốc gia không khỏi buồn là chẳng những mình đã mắc mưu CS, đứng chung trong chính phủ Liên Hiệp để ông Hồ chứng tỏ được với nhân dân rằng ông ta tạo được một sự đoàn kết quốc gia, mà còn để cho một lãnh tụ của mình cùng ký với ông Hồ một hiệp định để củng cố thêm uy tín của ông ta trước quốc tế.
Để giúp độc giả biết thêm về nhà ngoại giao Pháp Jean Saiteny và những liên hệ và cảm tình của ông ta dành cho Hồ Chí Minh cũng như ảnh hưởng của hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm Bính Tuất, chúng tôi xin phân tích, phê phán tác phẩm FACE À HỒ CHÍ MINH của ông ta, đồng thời (trong phần chú thích) cũng sẽ nhắc lại sơ qua một tác phẩm khác ông ta viết trước đó là HISTOIRE D’UNE PAIX MANQUÉE.
Sau khi dự đám tang Hồ Chí Minh đầu tháng 9 năm 1969 với tư cách nhà ngoại giao Tây phương duy nhất, Jean Sainteny bắt đầu viết cuốn Face à Ho Chi Minh (Éditions Seghers, Paris, 1970).
Cuốn sách được Herma Briffault dịch ra Anh ngữ với tựa đề Hồ Chí Minh and his Việt Nam, a personal memoir được Cowles Book Company, Inc. xuất bản tại Chicago, Hoa Kỳ năm 1972. Phần trích dẫn ở đây là theo bản Anh ngữ.
Trước đó 5 năm, Sainteny đã viết một tác phẩm đáng chú ý khác là Histoire d’une paix manquée – Chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ – Fayard xuất bản 1967.
Theo nhà xuất bản, Sainteny là nhà ngoại giao Tây phương biết rõ nhất về Hồ Chí Minh. Ông là người đã gặp Hồ Chí Minh nhiều lần, là người thương thuyết với Hồ Chí Minh ròng rã 6 tháng để đi đến thoả ước 6-3-1946 mang chữ ký của ông.
Khi Hồ Chí Minh tới Pháp theo dõi cuộc thương thuyết Fontainebleau giữa hai phái đoàn Việt Pháp, tác giả cũng là người nhận lệnh của chính phủ Pháp đón tiếp và chu cấp mọi tiện nghi. Sau hiệp định Genève 1954, Sainteny là sứ giả Pháp giao dịch với miền Bắc để tìm cách duy trì một số cơ sở văn hóa, kinh tế tại đây, nhưng không thành công.
Sainteny ghi rõ ông không có tham vọng viết sử mà chỉ trình bày một số sự việc do ông biết về Hồ Chí Minh như một chứng nhân để cung cấp tài liệu sống và kinh nghiệm cá nhân cho các nhà chép sử sau này.
Ngay trong lời nói đầu, tác giả không che giấu cảm tình của mình qua lời diễn tả đã muốn rơi lệ vào lúc nghiêng mình bên quan tài Hồ Chí Minh.
Sainteny không phủ nhận ảnh hưởng của cộng sản đối với Hồ Chí Minh và cho biết ngay khi mới tới Pháp, Hồ Chí Minh đã say mê đọc Marx, kể cả tác phẩm đồ sộ Tư Bản Luận. “Chẳng bao lâu nó đã là cuốn sách gối đầu giường, người bạn ban đêm của ông Hồ. Ông ta hoàn toàn gắn bó với chủ nghĩa cộng sản. Ta có thể nói điều này một cách chắc chắn.” (1)
Nhưng tác giả viết: “Hồ cũng như Mao đã trở thành cộng sản ngay từ năm 1917. Tuy nhiên đối với ông ta, cộng sản ban đầu phần lớn chỉ là phương tiện để đạt mục đích dành độc lập cho tổ quốc. Không biết bao lần người ta đã hỏi tôi “ông Hồ quốc gia hay cộng sản?” Câu trả lời của tôi luôn vẫn thế: “Cả hai”. (2)
Hồ Chí Minh và Jean SAINTENY
Nguồn: expositions.bnf.fr
--------------------------------------------------------------------------------
Tuy nhiên, tác giả biết rõ nhiệm vụ mà Quốc Tế Cộng Sản đã trao cho ông Hồ Chí Minh và khẳng định: “Tại Quảng Đông, ông Hồ coi phòng báo chí của tòa lãnh sự Liên Xô, nhưng sứ mạng chính của ông là chuẩn bị tuyên truyền và hành động cho cộng sản ở Đông Dương”. (3) Ông còn ghi năm 1928, Hồ Chí Minh tới Thái Lan phụ trách 2 loại công tác trên của cộng sản ở vùng Đông Nam Á, Mã Lai Á, Thái Lan, Miến Điện và dĩ nhiên Đông Dương.
Trang 28, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã được giao phụ trách huấn luyện cho quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc về du kích chiến vào năm 1938, khi mà hai phe Quốc - Cộng Trung Hoa lại một lần nữa tạm liên hiệp để chống Nhật xâm lăng.
Sainteny trưng dẫn và đồng ý với phát biểu của “đồng chí Ducroux”: “Tôi không phủ nhận ông ta là người theo chủ nghĩa quốc tế (cộng sản) chân thành và là nhà cách mạng đích thực, nhưng Việt Nam luôn chiếm vị trí hàng đầu đối với ông –...I don’t deny that he was a sincere internationalist and a true revolutionary, but Việt Nam always took first place for him”. (4)
Tác giả dành riêng 15 trang của chương 6 nói về những cuộc đàm thoại giữa mình với Hồ Chí Minh với lời mở đầu: “Ngay khi vừa gặp lần đầu ngày 15-10-1945, tôi cũng như tướng Allessandri và Léon Pignon, đều tin chắc Hồ Chí Minh là một nhân vật thượng thặng.”
Qua hàng loạt hội kiến sau đó kéo dài 6 tháng, tác giả đã có một nhận định tổng quát về con người, về lập trường cũng như chiến lược sách lược đấu tranh bằng thương thuyết của Hồ Chí Minh. Đại khái trước tình hình khó khăn do sự hiện diện của quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc vĩ tuyến 16 mang theo về các đảng quốc gia gồm Đại Việt, Việt Cách và nhất là Việt Quốc, Hồ Chí Minh đã phải khéo léo tranh thủ cảm tình của người Pháp – Đã rõ là ông Hồ không thể loại bỏ mối đe dọa từ phía Trung Hoa mà không có sự ủng hộ của Pháp.
Về điểm này quyền lợi của hai bên Việt Pháp gặp nhau. (5) Tác giả cho biết không hề ảo tưởng là Hồ Chí Minh nhượng bộ nhiều, vì ông ta có những điểm cần phải bảo vệ một cách quyết liệt và viết tiếp: “Khi những mưu tính của ông ta hay đồng chí của ông ta, hoặc chính bản thân ông ta bị đe dọa, ông ta sẽ không do dự dùng những cách tàn bạo. Về phương diện này, ông ta hoàn toàn thuộc về cái thứ châu Á quá nhiều mâu thuẫn, ở đó người ta áp dụng những hình thức tra tấn cực hình tinh vi nhất tiếp theo những nghi thức xã giao rất ư ngọt ngào” (6).
Liền sau đó, Sainteny cho thấy sự uyển chuyển của Hồ Chí Minh khi ứng phó với tình thế khác hẳn thái độ cố chấp cứng ngắc của những người Việt Nam đấu tranh yêu nước lúc đó: “Để đạt mục đích đối với chúng tôi, Hồ Chí Minh đủ sáng suốt để không đòi hỏi quá nhiều như một số đối thủ của ông ta. Trong khi những người này đòi độc lập hoàn toàn và tức khắc như điều kiện tiên quyết để thương thuyết thì Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng bằng lòng với sự độc lập tương đối, chấp nhận một thoả hiệp hòa nhã với nước Pháp để rồi chẳng bao lâu sau nước ông sẽ được độc lập hoàn toàn.”
Tác giả tỏ ra tán đồng sự uyển chuyển này và nghĩ rằng Hồ Chí Minh vẫn không quên mục tiêu giành độc lập cho đất nước: “Tại sao chúng ta lại phải nghi ngờ lòng thành thực của ông ta? Ông ta đã chờ 35 năm, và có thể chờ thêm dăm năm nữa có sao. Kiên trì là đức tính của Á Đông mà.” (7)
Khi nói về đòi hỏi quá nhiều của những người quốc gia “đối thủ của Hồ Chí Minh”, có lẽ tác giả nhớ lại Nguyễn Tường Tam mà ông gặp qua trung gian một sĩ quan Việt tên Phác, khi mới đến Côn Minh để đảm nhận trọng trách “Phái Bộ 5”. Nguyễn Tường Tam đã cảnh cáo người Pháp về quyết tâm kinh khủng của đồng bào ông là phải thoát ngay ách đô hộ của người Pháp. Còn Hồ Chí Minh sau đó đã gửi cho phái bộ này bức điện văn 5 điểm trong đó có điểm 2 như sau: “Nền độc lập phải được trao trả trong thời hạn 5 năm hay tối đa 10 năm” (8)
Chương 10, nói về tôn giáo, Sainteny gần như không mảy may nghi ngờ về việc Hồ Chí Minh đóng kịch khi nói đến Thượng Đế một cách kính cẩn. Trong khi tạm trú ở Biarritz để chờ được đón tiếp chính thức bởi chính phủ mới của Pháp lúc ấy chưa lập xong, Hồ Chí Minh đã đề nghị được đi thăm viếng Lộ Đức (9) và “đã tỏ ra rất cung kính và thích thú khi được Đức Cha Théas đón tiếp tại đây.” (10)
Sainteny cũng nhắc lại lá thư riêng của Hồ Chí Minh gửi cho mình ngày 24/2/1947, trong đó Hồ Chí Minh hy vọng Thượng Đế sẽ giúp hai người thành công trong nỗ lực mưu tìm hòa bình. Tác giả viết: “Ông Hồ xin Thượng Đế chứng giám cho là cả hai chúng tôi không ai có trách nhiệm về cuộc chiến đã tàn phá đất nước ông từ ngày 19/12/1946.”
Sainteny ghi lại ý nghĩ của mình là Hồ Chí Minh không cần giả vờ nhắc đến Thượng Đế trong dịp này. “Để đánh lừa ai? Chắc chắn không phải tôi. Và, ông ta cũng biết chắc chắn là tôi không công bố lá thư đó.”
Sainteny hoàn toàn đúng khi nghĩ Hồ Chí Minh biết chắc chắn sẽ không có việc công bố lá thư và vì thế Hồ Chí Minh sẽ không cần giả vờ để đánh lừa bất kỳ ai.
Nhưng khi xác quyết Hồ Chí Minh không nhắm đánh lừa mình – chắc chắn không phải tôi – Sainteny đã chứng tỏ là chủ quan tới mức lầm lạc. Đặt lên bàn cân việc chinh phục lòng tin của một người như Sainteny và chinh phục lòng tin của hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người Pháp khác không ở cương vị của Sainteny lúc đó thì vấn đề đã dễ dàng sáng tỏ. Sainteny không lưu tâm so sánh và còn nhắc thêm một câu do Hồ Chí Minh viết trong di chúc về việc ông ta sẽ đi gặp Các Mác và Lênin, để cho rằng Hồ Chí Minh thực sự tin ở đời sau. (!)
Thực ra, cảm tình mà Sainteny dành cho Hồ Chí Minh đến mức tin rằng mình không bị gạt hoàn toàn không gây ngạc nhiên khi người ta biết về cung cách giao tiếp của Hồ Chí Minh và biết rõ Sainteny là người có nhiều dịp đặc biệt cùng Hồ Chí Minh gặp gỡ kể từ 1945. Lần cuối Sainteny gặp Hồ Chí Minh là tháng 7-1966. Lần gặp này, Sainteny cho biết, Hồ Chí Minh rất mãn nguyện vì được đọc thư của tướng De Gaulle là người mà dịp qua Pháp 1946, Hồ Chí Minh rất muốn gặp nhưng không được.
Sainteny kể lại là Hồ Chí Minh cười thoải mái khi đọc đến câu De Gaulle “giới thiệu” Sainteny. – “Giới thiệu ông với tôi! Đâu có cần. Chúng ta đã biết nhau nhiều mà... Đừng gọi tôi là chủ tịch nữa. Giữa chúng ta mấy tiếng đó thật buồn cười!...”
Cung cách tiếp xúc với lời lẽ thân mật đó đủ tạo một ấn tượng tốt với người đối diện và tất nhiên dễ chinh phục sự tin tưởng về các vấn đề được nêu ra.
Trong tương quan với Hồ Chí Minh, Sainteny còn được dành một ưu tiên đặc biệt là bất cứ lúc nào cần đều có thể gặp mặt. Sự biệt đãi này khiến Sainteny luôn hãnh diện vì được Hồ Chí Minh coi như bạn. Suốt nhiều năm qua lại Hà Nội, chỉ một lần duy nhất Sainteny không được Hồ Chí Minh đích thân ra đón. Đó là lần Sainteny tới với tư cách đại diện toàn quyền Pháp tại miền Bắc Việt Nam. Lần đó, Sainteny hơi cảm thấy buồn, nhưng về sau được biết là Hồ Chí Minh đang đau nên hoàn toàn an tâm về tình bạn đã có.
Với tư cách nhà ngoại giao lão luyện và ở cương vị đặc biệt để nắm vững nhiều biến cố, Sainteny đã đề cập tới nhiều hành vi nham hiểm, tàn ác mà Hồ Chí Minh và các đồng chí theo đuổi đối với kiều dân Pháp tại Việt Nam. Chính Sainteny đã là nạn nhân và bị thương nặng ngay đêm 19-12-1946. (11) Sainteny cũng nắm vững cả việc Hồ Chí Minh mượn tay Pháp tiêu diệt các đảng đối lập. Nhưng tình cảm bạn bè đã dập tắt mọi ý nghĩ ngờ vực chê trách và đôi khi còn thúc đẩy Sainteny bày tỏ sự tán trợ.
Trong lần gặp gỡ cuối cùng, hai người đề cập tới cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra tại miền Nam và mức độ oanh tạc leo thang của Mỹ tại miền Bắc. Hồ Chí Minh tỏ ra rất tự tin, tâm sự với Sainteny rằng “nước Mỹ có thể xóa sạch thành phố này cũng như nhiều thành phố khác của Việt Nam nhưng không làm chúng tôi lay chuyển đâu. Ông biết đó, chúng tôi đã có kinh nghiệm và ông đã thấy chiến cuộc kết thúc ra sao.”
Sainteny cho là Hồ Chí Minh có ý nhắc tới trận Điện Biên Phủ nhưng ông không cảm thấy mỉa mai chua xót và cũng không nghĩ rằng Hồ Chí Minh có ý khoe khoang hay châm chọc. (12)
Ý nghĩ không thay đổi của Sainteny là trách cứ các chính phủ Pháp không chịu trao trả độc lập cho Việt Nam, như người Anh đã làm với Ấn Độ năm 1948.
Sainteny xác định không có tham vọng làm công việc chép sử nên ông thoải mái phơi trải cảm xúc cá nhân. Với tư cách nhà ngoại giao từng một thời có mặt tại Việt Nam, ông cung cấp khá nhiều tài liệu về những biến cố đã xẩy ra. Riêng về xu hướng tư tưởng của Hồ Chí Minh, ít nhất Sainteny cũng xác định một điều là Hồ Chí Minh say mê chủ nghĩa Cộng Sản, chọn Tư Bản Luận làm sách gối đầu giường và đọc Karl Marx một cách ngấu nghiến. (13)
Cảm giác còn lại rõ rệt sau khi đọc tác phẩm của Sainteny là sức mạnh lấn át của tình cảm so với nhận thức hiện ra thật rõ ràng, kể cả với những người thường xuyên phải vận dụng lý trí.
© DCVOnline
--------------------------------------------------------------------------------
(1) - Hoà Chí Minh and Vietnam, a personal memoire, trang 18.
(2) - (3) - (4) SĐD các tr. 20, 23, 34
(5) SĐD tr. 55, nguyên văn bản tiếng Anh: It is clear that HCM could not eliminate the Chinese menace without French support. On this point our interests coincided.
(6) - (7) SĐD tr. 57.
(8) Histoire d’une paix manquée, Fayard, Paris, 1967, tr. 66- 68.
(9) Một thánh địa ở Tây Nam nước Pháp, nơi Đức Bà Maria, năm 1858 đã hiện ra với một thiếu nữ quê mùa (sau được Giáo Hội phong thánh là thánh Bernadette) và làm nhiều phép lạ.
(10) SĐD tr. 132.
(11) Trang cuối cùng tác phẩm Histoire d’une paix manquée (Fayard 1967, tr. 147), Sainteny viết: “20 giờ đúng. Thành phố chìm sâu trong im lặng. Đồng hồ bệnh viện Yersin điểm 8 tiếng trầm chậm. Tôi bảo mấy cộng sự viên: “Hình như chưa phải tối nay đâu. Tôi đi về nhà cái đã.” Tôi vừa vào trong xe thì nghe tiếng nổ bụp, và bỗng cả thành phố chìm trong bóng tối. Nhà máy đèn trung ương vừa phát nổ. Lúc ấy là đúng 20 giờ 04...đêm 19-12-1946, cũng y hệt đêm 9-3-1945 cũng đúng 20 giờ 04, trong cùng một giờ, cùng một hoàn cảnh, dân Việt Nam, những học trò đời đời ngoan ngoãn đã thực hành bài học mà những ông thầy Nhật Bổn đã dậy họ 21 tháng trước đó. Đàng khác, một vài kẻ trong số những ông thầy đó giờ đây cũng ở đâu đó không xa.” Những phát súng đầu tiên như pháo rang xé toang bóng đêm bao trùm thành phố, chôn vùi những cố gắng và hy vọng của chúng ta.”
Và hai trang sau là phần viết tiếp của nhà xuất bản đã cho biết về tình trạng của tác giả: “Chiếc xe có gắn đại liên chở Sainteny đã cán mìn cỡ nặng, bắn tung lên, đốn ngả cây cối bên đường và biến mặt tiền của một cửa hiệu thành tro bụi. Nó bốc cháy trong cơn mưa lựu đạn.... Sainteny cố thoát ra được khỏi xe. Các người khác cùng lần lượt ra được. Nhưng kẻ thì hấp hối, đầu tựa vào đầu gối tác giả, người thì toàn thân như bó đuốc, phải chữa trị nhiều tháng trong bệnh viện. Riêng tác giả bị thương nặng ở lưng và hông phải nát bấy. Ông được giải phẫu ngay đêm đó và chỉ ít ngày sau đã cố trở lại nhiệm sở bằng xe cứu thương! ....
(12) SĐD tr. 164.
(13) Histoire d’une paix manquée tr. 179, nguyên văn: Il dévore Karl Marx.
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3061
*********
NVN
Nhưng tác giả viết:“Hồ cũng như Mao đã trở thành cộng sản ngay từ năm 1917. Tuy nhiên đối với ông ta, cộng sản ban đầu phần lớn chỉ là phương tiện để đạt mục đích dành độc lập cho tổ quốc. Không biết bao lần người ta đã hỏi tôi “ông Hồ quốc gia hay cộng sản?” Câu trả lời của tôi luôn vẫn thế: “Cả hai”.
HCM là một "tín đồ vô sản" cuồng tín của Mao/Stalin qua câu nói để đời: "Bác Cháu chúng ta có thể sai, nhưng 2 vị lảnh tụ Mao/Stalin thì không bao giờ sai" : YÊU NƯỚC-QƯỐC GIA + CUỒNG TÍN CS = TAI HỌA THẾ KỲ.
Trích từ http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9393&rb=0302 :
Tai hoạ của thế kỷ. Chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít và tính đặc thù của thảm hoạ
Mặc dù chủ nghĩa Quốc xã đã thực hiện những tội ác mà chủ nghĩa cộng sản có thể không so sánh được nhưng phải nói rằng sự tàn phá về mặt đạo đức của chủ nghĩa cộng sản thì sâu hơn và rộng hơn nhiều. Có hai lý do:
Thứ nhất, toàn dân phải học các nguyên tắc đạo đức mới. Các chứng cớ đã nói với ta rằng đây là sự cải đạo bắt buộc, đấy là sự áp bức nặng nề nhất, khó chịu nhất, so với nó thì tất cả những thứ khác: sự thiếu vắng tự do chính trị và dân sự, việc theo dõi của cảnh sát, sự đàn áp về thể xác và kể cả nỗi sợ hãi, đều không là gì so với nền giáo dục bắt buộc đó. Nó có thể làm người ta phát điên vì nó trái ngược hẳn với các sự kiện rõ ràng, trái ngược hẳn các sự kiện có thể cảm thấy được. Và cuối cùng, tất cả các “biện pháp” và “cơ quan” đều bị nó khống chế. Chủ nghĩa cộng sản có thời gian tồn tại lâu hơn chủ nghĩa Quốc xã cho nên nền giáo dục này đã hoàn thành nhiệm vụ mà nó đặt ra. Sau khi sụp đổ, nó đã để lại một xã hội đầy thương tích, để lại những tâm hồn bị đầu độc khó thanh tẩy hơn là ở nước Đức mà sau một giai đoạn vong thân tạm thời, đất nước này đã thoát ra khỏi cơn ác mộng, sẵn sàng lao động, sẵn sàng sám hối.
Thứ hai, vì có sự lẫn lộn thâm căn cố đế giữa đạo đức vẫn được mọi người thừa nhận và đạo đức cộng sản: cái sau ẩn náu sau cái trước, sống ký sinh vào cái trước, giết chết cái trước, như bệnh hoại thư, dùng cái trước làm phương tiện truyền bệnh của mình. Đây là một thí dụ: Trong một cuộc tranh luận sau khi xuất bản Cuốn sách đen về chủ nghĩa cộng sản, tác giả của những bài xã luận trên tờ Humanité đã tuyên bố trên truyền hình rằng 85 triệu người bị giết hại không hề làm lu mờ lý tưởng cộng sản; đấy chỉ là kết quả của những sự lệch lạc rất đáng tiếc mà thôi. Sau Oswiecim, ông ta tuyên bố, không thể là đảng viên Quốc xã được nữa, nhưng sau những trại tù của Liên Xô thì người ta vẫn có thể là đảng viên cộng sản được. Con người này, lúc đó vẫn còn tỉnh táo, không biết rằng ông ta đã tự ký cho mình bản án tử hình khi nói như thế. Ông ta không nhận ra rằng lý tưởng cộng sản đã đánh mất hoàn toàn nguyên tắc thực tiễn và cơ sở đạo đức đến nỗi trong thực tế, nó vẫn còn sống được sau khi đã để lại trên đường đi của nó 85 triệu xác chết, trong khi lý tưởng Quốc xã đã sụp đổ dưới sức nặng của chính những xác chết do nó tạo ra.
...
Ông ta đã nói những lời lẽ khủng khiếp như thế trong khi nghĩ rằng mình là một người trung thực, một người trung thành với lý tưởng, một người không khoan nhượng. Chủ nghĩa cộng sản tha hoá hơn chủ nghĩa Quốc xã vì nó không bảo người ta chấp nhận một cách có ý thức tư cách của kẻ làm điều ác nhưng nó lại lợi dụng tinh thần công bằng và bác ái thịnh hành trên khắp hành tinh để truyền bá cái ác. Tất cả các thí nghiệm của cộng sản đều bắt đầu bằng sự trong trắng, hồn nhiên.
---
Trúc Lê
HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6/3/1946
(ký kết giữa Hồ Chí Minh & Vũ Hồng Khanh với Sainteny)
(Bản dịch của Trúc Lê)
Hiệp Định Giữa Pháp Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ngày 6/03/1946
4. Chính phủ nước Pháp công nhận Cộng Hòa Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ riêng, quốc hội riêng, quân đội riêng và tài chính riêng, là một thành phần thuộc Liên Bang Đông Dương và Khối Liên Hiệp Pháp Quốc. Về vấn đề thống nhất ba Kỳ của An Nam [Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ] chính phủ Pháp cam kết sẽ tôn trọng quyết định của người dân thông qua một cuộc Trưng Cầu Dân Ý.
5. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp đón thân thiện Quân đội Pháp khi họ tuân theo các thỏa thuận quốc tế để vào (Việt Nam) thay thế cho các đoàn lính Trung Hoa. Một Thỏa Ước Phụ, đính kèm theo Hiệp Định Sơ Bộ này, sẽ nêu rõ các phương tiện mà các cuộc hành quân tiếp thu này phải tuân thủ.
6. Những điều ký kết nói trên sẽ có hiệu lực tức thì. Ngay sau khi trao đổi chữ ký của hai bên, các Cơ Quan Cao Cấp của mỗi bên sẽ thực hiện mọi biện pháp cần thiết để ngăn chận các hành vi thù nghịch trên các hiện trường, để giữ cho binh lính của hai bên ở nguyên vị trí đang chiếm đóng, và để tạo ra một không khí thuận lợi cần thiết cho việc mở ra tức thời các cuộc thương thuyết thân thiện và chân thành. Các cuộc thương thuyết này sẽ đặc biệt điều đình về các điểm sau:
a. Các liên hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước ngoài;
b. Luật pháp tương lai của Việt Nam
c. Các quyền lợi kinh tế, văn hóa của nước Pháp ở Việt Nam.
Hà Nội, Sài Gòn và Paris có thể được chọn để là nơi họp mặt để thương thuyết.
LÀM TẠI HÀ NỘI , ngày 6 tháng 3 năm 1946.
Đã ký: Sainteny
Đã ký: Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh.
Source: Les Papiers Du Pentagone , Édition De Gravier, Volume 1, Chapitre 1 (Boston: Pression de balise, 1971), pp 18-19
Đọc lại lịch sử về Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/1946 tôi không khỏi buồn lòng về cung cách của những người Việt theo chủ nghĩa quốc gia trước những người Việt theo chủ nghĩa cộng sản mà ông Hồ Chí Minh là nhân vật tiêu biểu. Phải thành thật thú nhận rằng người quốc gia đã thua người cộng sản vì cái tâm của người quốc gia quá trong sáng, luôn luôn lấy sự độc lập tự do của dân tộc làm cứu cánh. Chính vì cái tâm đó mà người quốc gia đã bị ông Hồ lừa bịp và tiêu diệt không còn một manh giáp để cuối cùng ôm hận nhìn quê hương tang tóc đổ vở như ngày nay. Lấy thí dụ ông Vũ Hồng Khanh là một lãnh tụ có uy tín của phe những người quốc gia. Thế mà ông đã dễ dàng bị những lời đường mật của ông Hồ lừa dối để ký cái Hiệp Định Sơ Bộ này, hầu chia xẻ với ông Hồ tội phản quốc (chấp nhận cho người Pháp trở lại VN, ngược với ý nguyện của toàn dân lúc đó). Ông VHK hoàn toàn không chút nghi ngờ dã tâm của ông Hồ là dùng người Pháp để đuổi người Tàu (phe Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch) ra khỏi VN, để loại bỏ một thế lực lớn đang ủng hộ mạnh mẽ phe Quốc Gia lúc đó, và sau đấy dùng tay Pháp và tay của tướng sát nhân Võ Nguyên Giáp, đi lùng và giết sạch những người quốc gia đang cộng tác với ông Hồ trong chính phủ liên hiệp Việt Minh của những phe nhóm quốc gia và cộng sản. Cái đau đớn nhất của người quốc gia là, lớp thì bị Việt Minh và Pháp giết thẳng tay, lớp khác (rất nhỏ) thì nhờ may mắn trốn ra khỏi VN, hoặc chạy về phía đất do Pháp đang cai quản, và tất cả đều bị ông Hồ và phe CS tố cáo là Việt gian bán nước. Trong khi sự thật là chính phe ông Hồ mới là Việt gian thứ thật vì đã làm tay sai Nga Tàu để đem chủ nghĩa Mác Lê về hủy hoại quê hương. Bài học đau đớn này người Việt quốc gia đã không bao giờ quên.
(Trích Chỉ thị của Ban T.V.T.W Hoà để tiến, ngày 9-3-1946 từ Văn kiện Đảng toàn tập của ĐCSVN)
I – Hiệp định sơ bộ Việt Pháp
Ngày 6-3-46, Chính phủ ta đã ký với đại biểu Pháp ở Hà Nội bản Hiệp định sơ bộ (Convention preliminaire) gồm có ba khoản đại khái như dưới đây:
a) Nước Pháp công nhận nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam là một nước tự do có ba kỳ, đứng trong... khối Liên hiệp Pháp.
b) Nước Việt Nam thuận để quân đội Pháp vào Bắc Việt Nam, thay quân đội Tàu, hạn quân Pháp ở Đông Dương không quá 5 nǎm.
c) Hai bên đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức và trong khi đàm phán, quân hai bên đóng đâu vẫn cứ đóng đấy.
Như thế là nhờ sự chiến đấu anh dũng của chúng ta trong mấy nǎm nay và nhất là trong mấy tháng kháng chiến gần đây và nhờ tinh thần yêu chuộng tự do, chính nghĩa của dân Pháp, Chính phủ Pháp đã phải công nhận quyền tự chủ và sự thống nhất quốc gia của ta. Hiệp định Việt - Pháp có được là vì nước Việt Nam mới có lực lượng chiến đấu mới và nước Pháp mới cũng có tinh thần tự do mới.
(còn tiếp)
Chúng ta hoà với Pháp để:
1- Tránh tình thế bất lợi: phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước), chúng sẽ đúc thành một khối và được bọn đế quốc Anh, Mỹ giúp sức để đánh ta trong khi các lực lượng hoà bình, tự do và tiến bộ trên thế giới (như Liên Xô, phong trào cộng sản ở Tàu và Pháp, cách mạng thuộc địa) chưa thể trực tiếp giúp ta được.
2- Bảo toàn thực lực dành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào. Tóm lại để chuẩn bị đầy đủ, nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới.
Do Hiệp định ngày 6-3-1946, nước Pháp chưa chịu nhận Đông Dương hoàn toàn độc lập ngay, nhưng cũng không giữ chủ trương lạc hậu của Chính phủ de Gaulle trước đây chỉ nhận cho Đông Dương tự trị theo Bản Tuyên ngôn ngày 24-3 nǎm ngoái.
Thật thế, nước Pháp nhận nước Việt Nam là một nước tự do (Etat libre) có Chính phủ tự chủ (Self Gouvernement), có nghị viện, có quân đội và tài chính riêng, v.v. còn hai nước nhỏ trong Đông Dương như Ai Lao thì nước Pháp chưa bàn đến và Cao Miên thì đã tuyên bố nhận quyền tự trị rồi.
Tóm lại, ba nước ... không thể trở lại chế độ thuộc địa như trước chiến tranh nữa, nhưng cũng chưa được độc lập: nghĩa là hoặc được tự trị như Cao Miên hoặc được hưởng một chế độ rộng rãi hơn tự trị như Việt Nam.
Song Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, chỉ là bước đầu. Cuộc đàm phán sẽ tiếp tục, lấy bản Hiệp định sơ bộ làm nền tảng.
Nhiệm vụ của chúng ta là hậu thuẫn cho Chính phủ trong cuộc đàm phán chính thức nay mai.
Chỉ cần đọc đoạn 1 trên đây trong Chỉ Thị của Thường Vụ Trung Ương ĐCSVN về Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 là ngày nay ai ai cũng nhận rõ Hồ Chí Minh và phe của ông vào năm 1946 đã lộ rõ bộ mặt tay sai của Nga Tàu vì chỉ thị này (cũng như các văn khiện khác của đảng CSVN từ trước đến nay) luôn luôn nhắc đến Liên Xô và Trung Quốc như là các lực lương hòa bình, tự do và tiến bộ trên thế giới. Thực chất là hai ông nội Liên Xô và Trung Quốc này chính là hai lực lượng ác độc, tàn bạo, hiếu chiến và phi nhân nhất trong lịch sử nhân loại.
(Trích bài Thỏa hiệp án 14/9/1946: ông Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia của Hứa Hoành)
…………………………………
Sau ngày 2/9/45, VN trở thành quốc gia độc lập thật sự, mà kẻ thù chính là thực dân Pháp còn ở xa. Với Hiệp ước sơ bộ (6/3/1946), ông Hồ mời quân Pháp vào chiếm đóng Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc. Ðó là một trọng tội trong lịch sử. Ông cần rảnh tay để đối phó với các đảng theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Ðể che giấu chủ trương bắt tay với kẻ thù, ông Hồ tuyên bố chính sách ‘văn hóa Pháp Việt đề huề’ (điều 3 Thỏa hiệp án), ca tụng ‘nước Pháp mới’ (nước Pháp của thực dân) và Liên Hiệp Pháp, tức đế quốc trá hình. Nổi thao thức của ông Hồ lúc này (1946) là không muốn bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào ngoài Việt Minh nắm quyền, hay chia xẻ quyền hành với Việt Minh. Hiểu như thế nên chúng ta mới không ngạc nhiên khi đối với kẻ thù chính là Pháp, thì ông ta đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Vừa mới tuyên bố độc lập, ông Hồ lại chịu nép mình trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, và cho Pháp có đầy đủ quyền lợi như thời thuộc địa. Thái độ của ông Hồ lúc nầy là dựa hẳn vào Pháp, cấu kết với Pháp, để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Nếu thực tâm yêu nước và chiến đấu vì quyền lợi quốc gia dân tộc, ông Hồ và mặt trận Việt Minh đã tích cực chuẩn bị kháng chiến khi Pháp chưa trở lại VN. Ông đã bỏ phí thời gian (15 tháng, năm 1945 - 1946) mà còn phá nát thế đoàn kết chiến đấu của những đảng quốc gia đang ‘liên hiệp’ với ông trong cái chính phủ do ông làm chủ tịch. Ðiều này có nghĩa vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh, mà ông Hồ đã phá nát thế đoàn kết kháng chiến chống Pháp, làm cho thế lực Việt Nam yếu đi, nhưng ông vẫn làm, vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh.
Hứa Hoành
(ký kết giữa Hồ Chí Minh & Vũ Hồng Khanh với Sainteny)




s
***********
Hiệp định sơ bộ Xuân Bính Tuất
Minh Võ
Jean Sainteny, người ký với Hồ Chí Minh hiệp định sơ bộ Xuân Bính Tuất
Mùa Xuân năm Bính Tuất, cách nay đúng một chu kỳ 60 năm theo âm lịch, đã có 2 hiệp ước quan trọng liên quan đến vận mệnh Việt Nam. Thứ nhất là hiệp ước Pháp Hoa ký ngày 28/2/1946, theo đó Trung Hoa thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Đổi lại, Pháp bỏ tô giới ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, bán lại đường hoả xa Vân Nam, và sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương.
Với hiệp ước này, quân Pháp vào Bắc Việt qua hải cảng Hải Phòng, thay thế quân Trung Hoa làm nhiệm vụ tiếp quản Đông Dương, theo quy định của hiệp ước Potsdam ký kết gũa các đại cường sau thế chiến 2, bất chấp cái gọi là tuyên ngôn Độc Lập và chính phủ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”. Và như vậy chiến tranh chắc chắn bùng nổ ngay, nếu không có một thoả thuận giữa Pháp và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Jean ROGER (bí danh Jean SAINTENY, 1907-1978)
Nguồn: site.voila.fr
--------------------------------------------------------------------------------
Vì thế mới có hiệp định sơ bộ (convention préléminaire) mồng 6 tháng 3 năm 1946 (đầu năm Bính Tuất). Hiệp định này đã được ký kết một cách hết sức khẩn trương, sau nhiều tháng thương thuyết cam go giữa Hồ Chí Minh và đại diện Pháp quốc là Jean Sainteny. Cuộc thương thuyết kéo dài gần 6 tháng, sao lại nói là khẩn trương? Kéo dài vì hai bên đều kỳ kèo bớt một thêm hai, bên nào cũng muốn lợi về phần mình. Còn khẩn trương vì tính từ khi hiệp ước Pháp Hoa được ký (ngày 28/2/46) cho đến khi hiệp định sơ bộ ra đời chỉ vẻn vẹn có 1 tuần. Nếu kéo dài thêm nữa, khó tránh chiến tranh, là điều lúc ấy Hồ Chí Minh chưa sẵn sàng.
Hiệp định đó đã mang chữ ký của 2 người, đồng thời có thêm chữ ký của một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng là Vũ Hồng Khanh, với tư cách là “đại biểu đặc biệt của hội đồng bộ trưởng” (chính phủ Liên Hiệp). Ông Khanh, ký vì mắc mưu của cáo già HCM, sau này bị các đồng chí phê bình và trở thành nguồn chia rẽ giữa Quốc Dân đảng trong một thời gian.
Hiệp định có 3 điều khoản và một phụ ước. Hai đều chính yếu trong 3 điều khoản này là:
Thứ nhất: Chính phủ Pháp nhìn nhận Việt Nam là một nước tự do có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp.
Thứ hai: Chính phủ Việt Nam ưng thuận sẵn sàng đón rước quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa, theo hiệp ước quốc tế quy định.
Mặc dầu bên cạnh chữ ký của Hồ Chí Minh, Cộng Sản, còn có chữ ký của một lãnh tụ Việt Quốc, các đảng phái quốc gia lúc ấy cực lực chống đối hiệp định này, vì nó chỉ công nhận VN là một nước tự do trong liên hiệp Pháp, chứ không phải độc lập hoàn toàn. Nó cũng không xác định quyền VN có quân đội riêng và chính sách ngoại giao độc lập. Nhưng bút sa gà chết, Việt Nam Quốc Dân Đảng há miệng mắc quai.
Đó là cái tài xảo trá của ông Hồ. Ông ta đã bằng mọi cách cố đạt được một thoả hiệp với người Pháp để đuổi khéo quân đội Trung Hoa Quốc Gia, lúc ấy quân số lên đến 200.000 do các tướng Tiêu Văn và Lư Hán cầm đầu, và là lực lượng triệt để ủng hộ các đảng quốc gia. Như vậy cũng chẳng khác gì chặt bỏ một hậu thuẫn mạnh của phe quốc gia. Từ đó ông Hồ có thể dùng chính quân đội Pháp để diệt các đảng quốc gia, là đối thủ của ông ta.
Mục đích thứ hai mà ông Hồ đạt được với hiệp định này là được một cường quốc Tây Phương gián tiếp công nhận chính phủ của ông ta là chính phủ duy nhất của Việt Nam.
Ngày nay gẫm lại bài học quá khứ, các đảng phái quốc gia không khỏi buồn là chẳng những mình đã mắc mưu CS, đứng chung trong chính phủ Liên Hiệp để ông Hồ chứng tỏ được với nhân dân rằng ông ta tạo được một sự đoàn kết quốc gia, mà còn để cho một lãnh tụ của mình cùng ký với ông Hồ một hiệp định để củng cố thêm uy tín của ông ta trước quốc tế.
Để giúp độc giả biết thêm về nhà ngoại giao Pháp Jean Saiteny và những liên hệ và cảm tình của ông ta dành cho Hồ Chí Minh cũng như ảnh hưởng của hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 năm Bính Tuất, chúng tôi xin phân tích, phê phán tác phẩm FACE À HỒ CHÍ MINH của ông ta, đồng thời (trong phần chú thích) cũng sẽ nhắc lại sơ qua một tác phẩm khác ông ta viết trước đó là HISTOIRE D’UNE PAIX MANQUÉE.
Sau khi dự đám tang Hồ Chí Minh đầu tháng 9 năm 1969 với tư cách nhà ngoại giao Tây phương duy nhất, Jean Sainteny bắt đầu viết cuốn Face à Ho Chi Minh (Éditions Seghers, Paris, 1970).
Cuốn sách được Herma Briffault dịch ra Anh ngữ với tựa đề Hồ Chí Minh and his Việt Nam, a personal memoir được Cowles Book Company, Inc. xuất bản tại Chicago, Hoa Kỳ năm 1972. Phần trích dẫn ở đây là theo bản Anh ngữ.
Trước đó 5 năm, Sainteny đã viết một tác phẩm đáng chú ý khác là Histoire d’une paix manquée – Chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ – Fayard xuất bản 1967.
Theo nhà xuất bản, Sainteny là nhà ngoại giao Tây phương biết rõ nhất về Hồ Chí Minh. Ông là người đã gặp Hồ Chí Minh nhiều lần, là người thương thuyết với Hồ Chí Minh ròng rã 6 tháng để đi đến thoả ước 6-3-1946 mang chữ ký của ông.
Khi Hồ Chí Minh tới Pháp theo dõi cuộc thương thuyết Fontainebleau giữa hai phái đoàn Việt Pháp, tác giả cũng là người nhận lệnh của chính phủ Pháp đón tiếp và chu cấp mọi tiện nghi. Sau hiệp định Genève 1954, Sainteny là sứ giả Pháp giao dịch với miền Bắc để tìm cách duy trì một số cơ sở văn hóa, kinh tế tại đây, nhưng không thành công.
Sainteny ghi rõ ông không có tham vọng viết sử mà chỉ trình bày một số sự việc do ông biết về Hồ Chí Minh như một chứng nhân để cung cấp tài liệu sống và kinh nghiệm cá nhân cho các nhà chép sử sau này.
Ngay trong lời nói đầu, tác giả không che giấu cảm tình của mình qua lời diễn tả đã muốn rơi lệ vào lúc nghiêng mình bên quan tài Hồ Chí Minh.
Sainteny không phủ nhận ảnh hưởng của cộng sản đối với Hồ Chí Minh và cho biết ngay khi mới tới Pháp, Hồ Chí Minh đã say mê đọc Marx, kể cả tác phẩm đồ sộ Tư Bản Luận. “Chẳng bao lâu nó đã là cuốn sách gối đầu giường, người bạn ban đêm của ông Hồ. Ông ta hoàn toàn gắn bó với chủ nghĩa cộng sản. Ta có thể nói điều này một cách chắc chắn.” (1)
Nhưng tác giả viết: “Hồ cũng như Mao đã trở thành cộng sản ngay từ năm 1917. Tuy nhiên đối với ông ta, cộng sản ban đầu phần lớn chỉ là phương tiện để đạt mục đích dành độc lập cho tổ quốc. Không biết bao lần người ta đã hỏi tôi “ông Hồ quốc gia hay cộng sản?” Câu trả lời của tôi luôn vẫn thế: “Cả hai”. (2)
Hồ Chí Minh và Jean SAINTENY
Nguồn: expositions.bnf.fr
--------------------------------------------------------------------------------
Tuy nhiên, tác giả biết rõ nhiệm vụ mà Quốc Tế Cộng Sản đã trao cho ông Hồ Chí Minh và khẳng định: “Tại Quảng Đông, ông Hồ coi phòng báo chí của tòa lãnh sự Liên Xô, nhưng sứ mạng chính của ông là chuẩn bị tuyên truyền và hành động cho cộng sản ở Đông Dương”. (3) Ông còn ghi năm 1928, Hồ Chí Minh tới Thái Lan phụ trách 2 loại công tác trên của cộng sản ở vùng Đông Nam Á, Mã Lai Á, Thái Lan, Miến Điện và dĩ nhiên Đông Dương.
Trang 28, tác giả cho biết Hồ Chí Minh đã được giao phụ trách huấn luyện cho quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc về du kích chiến vào năm 1938, khi mà hai phe Quốc - Cộng Trung Hoa lại một lần nữa tạm liên hiệp để chống Nhật xâm lăng.
Sainteny trưng dẫn và đồng ý với phát biểu của “đồng chí Ducroux”: “Tôi không phủ nhận ông ta là người theo chủ nghĩa quốc tế (cộng sản) chân thành và là nhà cách mạng đích thực, nhưng Việt Nam luôn chiếm vị trí hàng đầu đối với ông –...I don’t deny that he was a sincere internationalist and a true revolutionary, but Việt Nam always took first place for him”. (4)
Tác giả dành riêng 15 trang của chương 6 nói về những cuộc đàm thoại giữa mình với Hồ Chí Minh với lời mở đầu: “Ngay khi vừa gặp lần đầu ngày 15-10-1945, tôi cũng như tướng Allessandri và Léon Pignon, đều tin chắc Hồ Chí Minh là một nhân vật thượng thặng.”
Qua hàng loạt hội kiến sau đó kéo dài 6 tháng, tác giả đã có một nhận định tổng quát về con người, về lập trường cũng như chiến lược sách lược đấu tranh bằng thương thuyết của Hồ Chí Minh. Đại khái trước tình hình khó khăn do sự hiện diện của quân đội Trung Hoa Dân Quốc tại miền Bắc vĩ tuyến 16 mang theo về các đảng quốc gia gồm Đại Việt, Việt Cách và nhất là Việt Quốc, Hồ Chí Minh đã phải khéo léo tranh thủ cảm tình của người Pháp – Đã rõ là ông Hồ không thể loại bỏ mối đe dọa từ phía Trung Hoa mà không có sự ủng hộ của Pháp.
Về điểm này quyền lợi của hai bên Việt Pháp gặp nhau. (5) Tác giả cho biết không hề ảo tưởng là Hồ Chí Minh nhượng bộ nhiều, vì ông ta có những điểm cần phải bảo vệ một cách quyết liệt và viết tiếp: “Khi những mưu tính của ông ta hay đồng chí của ông ta, hoặc chính bản thân ông ta bị đe dọa, ông ta sẽ không do dự dùng những cách tàn bạo. Về phương diện này, ông ta hoàn toàn thuộc về cái thứ châu Á quá nhiều mâu thuẫn, ở đó người ta áp dụng những hình thức tra tấn cực hình tinh vi nhất tiếp theo những nghi thức xã giao rất ư ngọt ngào” (6).
Liền sau đó, Sainteny cho thấy sự uyển chuyển của Hồ Chí Minh khi ứng phó với tình thế khác hẳn thái độ cố chấp cứng ngắc của những người Việt Nam đấu tranh yêu nước lúc đó: “Để đạt mục đích đối với chúng tôi, Hồ Chí Minh đủ sáng suốt để không đòi hỏi quá nhiều như một số đối thủ của ông ta. Trong khi những người này đòi độc lập hoàn toàn và tức khắc như điều kiện tiên quyết để thương thuyết thì Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng bằng lòng với sự độc lập tương đối, chấp nhận một thoả hiệp hòa nhã với nước Pháp để rồi chẳng bao lâu sau nước ông sẽ được độc lập hoàn toàn.”
Tác giả tỏ ra tán đồng sự uyển chuyển này và nghĩ rằng Hồ Chí Minh vẫn không quên mục tiêu giành độc lập cho đất nước: “Tại sao chúng ta lại phải nghi ngờ lòng thành thực của ông ta? Ông ta đã chờ 35 năm, và có thể chờ thêm dăm năm nữa có sao. Kiên trì là đức tính của Á Đông mà.” (7)
Khi nói về đòi hỏi quá nhiều của những người quốc gia “đối thủ của Hồ Chí Minh”, có lẽ tác giả nhớ lại Nguyễn Tường Tam mà ông gặp qua trung gian một sĩ quan Việt tên Phác, khi mới đến Côn Minh để đảm nhận trọng trách “Phái Bộ 5”. Nguyễn Tường Tam đã cảnh cáo người Pháp về quyết tâm kinh khủng của đồng bào ông là phải thoát ngay ách đô hộ của người Pháp. Còn Hồ Chí Minh sau đó đã gửi cho phái bộ này bức điện văn 5 điểm trong đó có điểm 2 như sau: “Nền độc lập phải được trao trả trong thời hạn 5 năm hay tối đa 10 năm” (8)
Chương 10, nói về tôn giáo, Sainteny gần như không mảy may nghi ngờ về việc Hồ Chí Minh đóng kịch khi nói đến Thượng Đế một cách kính cẩn. Trong khi tạm trú ở Biarritz để chờ được đón tiếp chính thức bởi chính phủ mới của Pháp lúc ấy chưa lập xong, Hồ Chí Minh đã đề nghị được đi thăm viếng Lộ Đức (9) và “đã tỏ ra rất cung kính và thích thú khi được Đức Cha Théas đón tiếp tại đây.” (10)
Sainteny cũng nhắc lại lá thư riêng của Hồ Chí Minh gửi cho mình ngày 24/2/1947, trong đó Hồ Chí Minh hy vọng Thượng Đế sẽ giúp hai người thành công trong nỗ lực mưu tìm hòa bình. Tác giả viết: “Ông Hồ xin Thượng Đế chứng giám cho là cả hai chúng tôi không ai có trách nhiệm về cuộc chiến đã tàn phá đất nước ông từ ngày 19/12/1946.”
Sainteny ghi lại ý nghĩ của mình là Hồ Chí Minh không cần giả vờ nhắc đến Thượng Đế trong dịp này. “Để đánh lừa ai? Chắc chắn không phải tôi. Và, ông ta cũng biết chắc chắn là tôi không công bố lá thư đó.”
Sainteny hoàn toàn đúng khi nghĩ Hồ Chí Minh biết chắc chắn sẽ không có việc công bố lá thư và vì thế Hồ Chí Minh sẽ không cần giả vờ để đánh lừa bất kỳ ai.
Nhưng khi xác quyết Hồ Chí Minh không nhắm đánh lừa mình – chắc chắn không phải tôi – Sainteny đã chứng tỏ là chủ quan tới mức lầm lạc. Đặt lên bàn cân việc chinh phục lòng tin của một người như Sainteny và chinh phục lòng tin của hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người Pháp khác không ở cương vị của Sainteny lúc đó thì vấn đề đã dễ dàng sáng tỏ. Sainteny không lưu tâm so sánh và còn nhắc thêm một câu do Hồ Chí Minh viết trong di chúc về việc ông ta sẽ đi gặp Các Mác và Lênin, để cho rằng Hồ Chí Minh thực sự tin ở đời sau. (!)
Thực ra, cảm tình mà Sainteny dành cho Hồ Chí Minh đến mức tin rằng mình không bị gạt hoàn toàn không gây ngạc nhiên khi người ta biết về cung cách giao tiếp của Hồ Chí Minh và biết rõ Sainteny là người có nhiều dịp đặc biệt cùng Hồ Chí Minh gặp gỡ kể từ 1945. Lần cuối Sainteny gặp Hồ Chí Minh là tháng 7-1966. Lần gặp này, Sainteny cho biết, Hồ Chí Minh rất mãn nguyện vì được đọc thư của tướng De Gaulle là người mà dịp qua Pháp 1946, Hồ Chí Minh rất muốn gặp nhưng không được.
Sainteny kể lại là Hồ Chí Minh cười thoải mái khi đọc đến câu De Gaulle “giới thiệu” Sainteny. – “Giới thiệu ông với tôi! Đâu có cần. Chúng ta đã biết nhau nhiều mà... Đừng gọi tôi là chủ tịch nữa. Giữa chúng ta mấy tiếng đó thật buồn cười!...”
Cung cách tiếp xúc với lời lẽ thân mật đó đủ tạo một ấn tượng tốt với người đối diện và tất nhiên dễ chinh phục sự tin tưởng về các vấn đề được nêu ra.
Trong tương quan với Hồ Chí Minh, Sainteny còn được dành một ưu tiên đặc biệt là bất cứ lúc nào cần đều có thể gặp mặt. Sự biệt đãi này khiến Sainteny luôn hãnh diện vì được Hồ Chí Minh coi như bạn. Suốt nhiều năm qua lại Hà Nội, chỉ một lần duy nhất Sainteny không được Hồ Chí Minh đích thân ra đón. Đó là lần Sainteny tới với tư cách đại diện toàn quyền Pháp tại miền Bắc Việt Nam. Lần đó, Sainteny hơi cảm thấy buồn, nhưng về sau được biết là Hồ Chí Minh đang đau nên hoàn toàn an tâm về tình bạn đã có.
Với tư cách nhà ngoại giao lão luyện và ở cương vị đặc biệt để nắm vững nhiều biến cố, Sainteny đã đề cập tới nhiều hành vi nham hiểm, tàn ác mà Hồ Chí Minh và các đồng chí theo đuổi đối với kiều dân Pháp tại Việt Nam. Chính Sainteny đã là nạn nhân và bị thương nặng ngay đêm 19-12-1946. (11) Sainteny cũng nắm vững cả việc Hồ Chí Minh mượn tay Pháp tiêu diệt các đảng đối lập. Nhưng tình cảm bạn bè đã dập tắt mọi ý nghĩ ngờ vực chê trách và đôi khi còn thúc đẩy Sainteny bày tỏ sự tán trợ.
Trong lần gặp gỡ cuối cùng, hai người đề cập tới cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra tại miền Nam và mức độ oanh tạc leo thang của Mỹ tại miền Bắc. Hồ Chí Minh tỏ ra rất tự tin, tâm sự với Sainteny rằng “nước Mỹ có thể xóa sạch thành phố này cũng như nhiều thành phố khác của Việt Nam nhưng không làm chúng tôi lay chuyển đâu. Ông biết đó, chúng tôi đã có kinh nghiệm và ông đã thấy chiến cuộc kết thúc ra sao.”
Sainteny cho là Hồ Chí Minh có ý nhắc tới trận Điện Biên Phủ nhưng ông không cảm thấy mỉa mai chua xót và cũng không nghĩ rằng Hồ Chí Minh có ý khoe khoang hay châm chọc. (12)
Ý nghĩ không thay đổi của Sainteny là trách cứ các chính phủ Pháp không chịu trao trả độc lập cho Việt Nam, như người Anh đã làm với Ấn Độ năm 1948.
Sainteny xác định không có tham vọng làm công việc chép sử nên ông thoải mái phơi trải cảm xúc cá nhân. Với tư cách nhà ngoại giao từng một thời có mặt tại Việt Nam, ông cung cấp khá nhiều tài liệu về những biến cố đã xẩy ra. Riêng về xu hướng tư tưởng của Hồ Chí Minh, ít nhất Sainteny cũng xác định một điều là Hồ Chí Minh say mê chủ nghĩa Cộng Sản, chọn Tư Bản Luận làm sách gối đầu giường và đọc Karl Marx một cách ngấu nghiến. (13)
Cảm giác còn lại rõ rệt sau khi đọc tác phẩm của Sainteny là sức mạnh lấn át của tình cảm so với nhận thức hiện ra thật rõ ràng, kể cả với những người thường xuyên phải vận dụng lý trí.
© DCVOnline
--------------------------------------------------------------------------------
(1) - Hoà Chí Minh and Vietnam, a personal memoire, trang 18.
(2) - (3) - (4) SĐD các tr. 20, 23, 34
(5) SĐD tr. 55, nguyên văn bản tiếng Anh: It is clear that HCM could not eliminate the Chinese menace without French support. On this point our interests coincided.
(6) - (7) SĐD tr. 57.
(8) Histoire d’une paix manquée, Fayard, Paris, 1967, tr. 66- 68.
(9) Một thánh địa ở Tây Nam nước Pháp, nơi Đức Bà Maria, năm 1858 đã hiện ra với một thiếu nữ quê mùa (sau được Giáo Hội phong thánh là thánh Bernadette) và làm nhiều phép lạ.
(10) SĐD tr. 132.
(11) Trang cuối cùng tác phẩm Histoire d’une paix manquée (Fayard 1967, tr. 147), Sainteny viết: “20 giờ đúng. Thành phố chìm sâu trong im lặng. Đồng hồ bệnh viện Yersin điểm 8 tiếng trầm chậm. Tôi bảo mấy cộng sự viên: “Hình như chưa phải tối nay đâu. Tôi đi về nhà cái đã.” Tôi vừa vào trong xe thì nghe tiếng nổ bụp, và bỗng cả thành phố chìm trong bóng tối. Nhà máy đèn trung ương vừa phát nổ. Lúc ấy là đúng 20 giờ 04...đêm 19-12-1946, cũng y hệt đêm 9-3-1945 cũng đúng 20 giờ 04, trong cùng một giờ, cùng một hoàn cảnh, dân Việt Nam, những học trò đời đời ngoan ngoãn đã thực hành bài học mà những ông thầy Nhật Bổn đã dậy họ 21 tháng trước đó. Đàng khác, một vài kẻ trong số những ông thầy đó giờ đây cũng ở đâu đó không xa.” Những phát súng đầu tiên như pháo rang xé toang bóng đêm bao trùm thành phố, chôn vùi những cố gắng và hy vọng của chúng ta.”
Và hai trang sau là phần viết tiếp của nhà xuất bản đã cho biết về tình trạng của tác giả: “Chiếc xe có gắn đại liên chở Sainteny đã cán mìn cỡ nặng, bắn tung lên, đốn ngả cây cối bên đường và biến mặt tiền của một cửa hiệu thành tro bụi. Nó bốc cháy trong cơn mưa lựu đạn.... Sainteny cố thoát ra được khỏi xe. Các người khác cùng lần lượt ra được. Nhưng kẻ thì hấp hối, đầu tựa vào đầu gối tác giả, người thì toàn thân như bó đuốc, phải chữa trị nhiều tháng trong bệnh viện. Riêng tác giả bị thương nặng ở lưng và hông phải nát bấy. Ông được giải phẫu ngay đêm đó và chỉ ít ngày sau đã cố trở lại nhiệm sở bằng xe cứu thương! ....
(12) SĐD tr. 164.
(13) Histoire d’une paix manquée tr. 179, nguyên văn: Il dévore Karl Marx.
http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3061
*********
NVN
Nhưng tác giả viết:“Hồ cũng như Mao đã trở thành cộng sản ngay từ năm 1917. Tuy nhiên đối với ông ta, cộng sản ban đầu phần lớn chỉ là phương tiện để đạt mục đích dành độc lập cho tổ quốc. Không biết bao lần người ta đã hỏi tôi “ông Hồ quốc gia hay cộng sản?” Câu trả lời của tôi luôn vẫn thế: “Cả hai”.
HCM là một "tín đồ vô sản" cuồng tín của Mao/Stalin qua câu nói để đời: "Bác Cháu chúng ta có thể sai, nhưng 2 vị lảnh tụ Mao/Stalin thì không bao giờ sai" : YÊU NƯỚC-QƯỐC GIA + CUỒNG TÍN CS = TAI HỌA THẾ KỲ.
Trích từ http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9393&rb=0302 :
Tai hoạ của thế kỷ. Chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít và tính đặc thù của thảm hoạ
Mặc dù chủ nghĩa Quốc xã đã thực hiện những tội ác mà chủ nghĩa cộng sản có thể không so sánh được nhưng phải nói rằng sự tàn phá về mặt đạo đức của chủ nghĩa cộng sản thì sâu hơn và rộng hơn nhiều. Có hai lý do:
Thứ nhất, toàn dân phải học các nguyên tắc đạo đức mới. Các chứng cớ đã nói với ta rằng đây là sự cải đạo bắt buộc, đấy là sự áp bức nặng nề nhất, khó chịu nhất, so với nó thì tất cả những thứ khác: sự thiếu vắng tự do chính trị và dân sự, việc theo dõi của cảnh sát, sự đàn áp về thể xác và kể cả nỗi sợ hãi, đều không là gì so với nền giáo dục bắt buộc đó. Nó có thể làm người ta phát điên vì nó trái ngược hẳn với các sự kiện rõ ràng, trái ngược hẳn các sự kiện có thể cảm thấy được. Và cuối cùng, tất cả các “biện pháp” và “cơ quan” đều bị nó khống chế. Chủ nghĩa cộng sản có thời gian tồn tại lâu hơn chủ nghĩa Quốc xã cho nên nền giáo dục này đã hoàn thành nhiệm vụ mà nó đặt ra. Sau khi sụp đổ, nó đã để lại một xã hội đầy thương tích, để lại những tâm hồn bị đầu độc khó thanh tẩy hơn là ở nước Đức mà sau một giai đoạn vong thân tạm thời, đất nước này đã thoát ra khỏi cơn ác mộng, sẵn sàng lao động, sẵn sàng sám hối.
Thứ hai, vì có sự lẫn lộn thâm căn cố đế giữa đạo đức vẫn được mọi người thừa nhận và đạo đức cộng sản: cái sau ẩn náu sau cái trước, sống ký sinh vào cái trước, giết chết cái trước, như bệnh hoại thư, dùng cái trước làm phương tiện truyền bệnh của mình. Đây là một thí dụ: Trong một cuộc tranh luận sau khi xuất bản Cuốn sách đen về chủ nghĩa cộng sản, tác giả của những bài xã luận trên tờ Humanité đã tuyên bố trên truyền hình rằng 85 triệu người bị giết hại không hề làm lu mờ lý tưởng cộng sản; đấy chỉ là kết quả của những sự lệch lạc rất đáng tiếc mà thôi. Sau Oswiecim, ông ta tuyên bố, không thể là đảng viên Quốc xã được nữa, nhưng sau những trại tù của Liên Xô thì người ta vẫn có thể là đảng viên cộng sản được. Con người này, lúc đó vẫn còn tỉnh táo, không biết rằng ông ta đã tự ký cho mình bản án tử hình khi nói như thế. Ông ta không nhận ra rằng lý tưởng cộng sản đã đánh mất hoàn toàn nguyên tắc thực tiễn và cơ sở đạo đức đến nỗi trong thực tế, nó vẫn còn sống được sau khi đã để lại trên đường đi của nó 85 triệu xác chết, trong khi lý tưởng Quốc xã đã sụp đổ dưới sức nặng của chính những xác chết do nó tạo ra.
...
Ông ta đã nói những lời lẽ khủng khiếp như thế trong khi nghĩ rằng mình là một người trung thực, một người trung thành với lý tưởng, một người không khoan nhượng. Chủ nghĩa cộng sản tha hoá hơn chủ nghĩa Quốc xã vì nó không bảo người ta chấp nhận một cách có ý thức tư cách của kẻ làm điều ác nhưng nó lại lợi dụng tinh thần công bằng và bác ái thịnh hành trên khắp hành tinh để truyền bá cái ác. Tất cả các thí nghiệm của cộng sản đều bắt đầu bằng sự trong trắng, hồn nhiên.
---
Trúc Lê
HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 6/3/1946
(ký kết giữa Hồ Chí Minh & Vũ Hồng Khanh với Sainteny)
(Bản dịch của Trúc Lê)
Hiệp Định Giữa Pháp Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ngày 6/03/1946
4. Chính phủ nước Pháp công nhận Cộng Hòa Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ riêng, quốc hội riêng, quân đội riêng và tài chính riêng, là một thành phần thuộc Liên Bang Đông Dương và Khối Liên Hiệp Pháp Quốc. Về vấn đề thống nhất ba Kỳ của An Nam [Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ] chính phủ Pháp cam kết sẽ tôn trọng quyết định của người dân thông qua một cuộc Trưng Cầu Dân Ý.
5. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng tiếp đón thân thiện Quân đội Pháp khi họ tuân theo các thỏa thuận quốc tế để vào (Việt Nam) thay thế cho các đoàn lính Trung Hoa. Một Thỏa Ước Phụ, đính kèm theo Hiệp Định Sơ Bộ này, sẽ nêu rõ các phương tiện mà các cuộc hành quân tiếp thu này phải tuân thủ.
6. Những điều ký kết nói trên sẽ có hiệu lực tức thì. Ngay sau khi trao đổi chữ ký của hai bên, các Cơ Quan Cao Cấp của mỗi bên sẽ thực hiện mọi biện pháp cần thiết để ngăn chận các hành vi thù nghịch trên các hiện trường, để giữ cho binh lính của hai bên ở nguyên vị trí đang chiếm đóng, và để tạo ra một không khí thuận lợi cần thiết cho việc mở ra tức thời các cuộc thương thuyết thân thiện và chân thành. Các cuộc thương thuyết này sẽ đặc biệt điều đình về các điểm sau:
a. Các liên hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước ngoài;
b. Luật pháp tương lai của Việt Nam
c. Các quyền lợi kinh tế, văn hóa của nước Pháp ở Việt Nam.
Hà Nội, Sài Gòn và Paris có thể được chọn để là nơi họp mặt để thương thuyết.
LÀM TẠI HÀ NỘI , ngày 6 tháng 3 năm 1946.
Đã ký: Sainteny
Đã ký: Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh.
Source: Les Papiers Du Pentagone , Édition De Gravier, Volume 1, Chapitre 1 (Boston: Pression de balise, 1971), pp 18-19
Đọc lại lịch sử về Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/1946 tôi không khỏi buồn lòng về cung cách của những người Việt theo chủ nghĩa quốc gia trước những người Việt theo chủ nghĩa cộng sản mà ông Hồ Chí Minh là nhân vật tiêu biểu. Phải thành thật thú nhận rằng người quốc gia đã thua người cộng sản vì cái tâm của người quốc gia quá trong sáng, luôn luôn lấy sự độc lập tự do của dân tộc làm cứu cánh. Chính vì cái tâm đó mà người quốc gia đã bị ông Hồ lừa bịp và tiêu diệt không còn một manh giáp để cuối cùng ôm hận nhìn quê hương tang tóc đổ vở như ngày nay. Lấy thí dụ ông Vũ Hồng Khanh là một lãnh tụ có uy tín của phe những người quốc gia. Thế mà ông đã dễ dàng bị những lời đường mật của ông Hồ lừa dối để ký cái Hiệp Định Sơ Bộ này, hầu chia xẻ với ông Hồ tội phản quốc (chấp nhận cho người Pháp trở lại VN, ngược với ý nguyện của toàn dân lúc đó). Ông VHK hoàn toàn không chút nghi ngờ dã tâm của ông Hồ là dùng người Pháp để đuổi người Tàu (phe Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch) ra khỏi VN, để loại bỏ một thế lực lớn đang ủng hộ mạnh mẽ phe Quốc Gia lúc đó, và sau đấy dùng tay Pháp và tay của tướng sát nhân Võ Nguyên Giáp, đi lùng và giết sạch những người quốc gia đang cộng tác với ông Hồ trong chính phủ liên hiệp Việt Minh của những phe nhóm quốc gia và cộng sản. Cái đau đớn nhất của người quốc gia là, lớp thì bị Việt Minh và Pháp giết thẳng tay, lớp khác (rất nhỏ) thì nhờ may mắn trốn ra khỏi VN, hoặc chạy về phía đất do Pháp đang cai quản, và tất cả đều bị ông Hồ và phe CS tố cáo là Việt gian bán nước. Trong khi sự thật là chính phe ông Hồ mới là Việt gian thứ thật vì đã làm tay sai Nga Tàu để đem chủ nghĩa Mác Lê về hủy hoại quê hương. Bài học đau đớn này người Việt quốc gia đã không bao giờ quên.
(Trích Chỉ thị của Ban T.V.T.W Hoà để tiến, ngày 9-3-1946 từ Văn kiện Đảng toàn tập của ĐCSVN)
I – Hiệp định sơ bộ Việt Pháp
Ngày 6-3-46, Chính phủ ta đã ký với đại biểu Pháp ở Hà Nội bản Hiệp định sơ bộ (Convention preliminaire) gồm có ba khoản đại khái như dưới đây:
a) Nước Pháp công nhận nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam là một nước tự do có ba kỳ, đứng trong... khối Liên hiệp Pháp.
b) Nước Việt Nam thuận để quân đội Pháp vào Bắc Việt Nam, thay quân đội Tàu, hạn quân Pháp ở Đông Dương không quá 5 nǎm.
c) Hai bên đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức và trong khi đàm phán, quân hai bên đóng đâu vẫn cứ đóng đấy.
Như thế là nhờ sự chiến đấu anh dũng của chúng ta trong mấy nǎm nay và nhất là trong mấy tháng kháng chiến gần đây và nhờ tinh thần yêu chuộng tự do, chính nghĩa của dân Pháp, Chính phủ Pháp đã phải công nhận quyền tự chủ và sự thống nhất quốc gia của ta. Hiệp định Việt - Pháp có được là vì nước Việt Nam mới có lực lượng chiến đấu mới và nước Pháp mới cũng có tinh thần tự do mới.
(còn tiếp)
Chúng ta hoà với Pháp để:
1- Tránh tình thế bất lợi: phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước), chúng sẽ đúc thành một khối và được bọn đế quốc Anh, Mỹ giúp sức để đánh ta trong khi các lực lượng hoà bình, tự do và tiến bộ trên thế giới (như Liên Xô, phong trào cộng sản ở Tàu và Pháp, cách mạng thuộc địa) chưa thể trực tiếp giúp ta được.
2- Bảo toàn thực lực dành lấy giây phút nghỉ ngơi và củng cố vị trí mới đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng, bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào. Tóm lại để chuẩn bị đầy đủ, nhằm cơ hội tốt tiến lên giai đoạn cách mạng mới.
Do Hiệp định ngày 6-3-1946, nước Pháp chưa chịu nhận Đông Dương hoàn toàn độc lập ngay, nhưng cũng không giữ chủ trương lạc hậu của Chính phủ de Gaulle trước đây chỉ nhận cho Đông Dương tự trị theo Bản Tuyên ngôn ngày 24-3 nǎm ngoái.
Thật thế, nước Pháp nhận nước Việt Nam là một nước tự do (Etat libre) có Chính phủ tự chủ (Self Gouvernement), có nghị viện, có quân đội và tài chính riêng, v.v. còn hai nước nhỏ trong Đông Dương như Ai Lao thì nước Pháp chưa bàn đến và Cao Miên thì đã tuyên bố nhận quyền tự trị rồi.
Tóm lại, ba nước ... không thể trở lại chế độ thuộc địa như trước chiến tranh nữa, nhưng cũng chưa được độc lập: nghĩa là hoặc được tự trị như Cao Miên hoặc được hưởng một chế độ rộng rãi hơn tự trị như Việt Nam.
Song Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, chỉ là bước đầu. Cuộc đàm phán sẽ tiếp tục, lấy bản Hiệp định sơ bộ làm nền tảng.
Nhiệm vụ của chúng ta là hậu thuẫn cho Chính phủ trong cuộc đàm phán chính thức nay mai.
Chỉ cần đọc đoạn 1 trên đây trong Chỉ Thị của Thường Vụ Trung Ương ĐCSVN về Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946 là ngày nay ai ai cũng nhận rõ Hồ Chí Minh và phe của ông vào năm 1946 đã lộ rõ bộ mặt tay sai của Nga Tàu vì chỉ thị này (cũng như các văn khiện khác của đảng CSVN từ trước đến nay) luôn luôn nhắc đến Liên Xô và Trung Quốc như là các lực lương hòa bình, tự do và tiến bộ trên thế giới. Thực chất là hai ông nội Liên Xô và Trung Quốc này chính là hai lực lượng ác độc, tàn bạo, hiếu chiến và phi nhân nhất trong lịch sử nhân loại.
(Trích bài Thỏa hiệp án 14/9/1946: ông Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia của Hứa Hoành)
…………………………………
Sau ngày 2/9/45, VN trở thành quốc gia độc lập thật sự, mà kẻ thù chính là thực dân Pháp còn ở xa. Với Hiệp ước sơ bộ (6/3/1946), ông Hồ mời quân Pháp vào chiếm đóng Hà Nội và nhiều tỉnh miền Bắc. Ðó là một trọng tội trong lịch sử. Ông cần rảnh tay để đối phó với các đảng theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Ðể che giấu chủ trương bắt tay với kẻ thù, ông Hồ tuyên bố chính sách ‘văn hóa Pháp Việt đề huề’ (điều 3 Thỏa hiệp án), ca tụng ‘nước Pháp mới’ (nước Pháp của thực dân) và Liên Hiệp Pháp, tức đế quốc trá hình. Nổi thao thức của ông Hồ lúc này (1946) là không muốn bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào ngoài Việt Minh nắm quyền, hay chia xẻ quyền hành với Việt Minh. Hiểu như thế nên chúng ta mới không ngạc nhiên khi đối với kẻ thù chính là Pháp, thì ông ta đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Vừa mới tuyên bố độc lập, ông Hồ lại chịu nép mình trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, và cho Pháp có đầy đủ quyền lợi như thời thuộc địa. Thái độ của ông Hồ lúc nầy là dựa hẳn vào Pháp, cấu kết với Pháp, để tiêu diệt các đảng phái quốc gia. Nếu thực tâm yêu nước và chiến đấu vì quyền lợi quốc gia dân tộc, ông Hồ và mặt trận Việt Minh đã tích cực chuẩn bị kháng chiến khi Pháp chưa trở lại VN. Ông đã bỏ phí thời gian (15 tháng, năm 1945 - 1946) mà còn phá nát thế đoàn kết chiến đấu của những đảng quốc gia đang ‘liên hiệp’ với ông trong cái chính phủ do ông làm chủ tịch. Ðiều này có nghĩa vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh, mà ông Hồ đã phá nát thế đoàn kết kháng chiến chống Pháp, làm cho thế lực Việt Nam yếu đi, nhưng ông vẫn làm, vì sự độc quyền lãnh đạo của Việt Minh.
Hứa Hoành
Chiều hướng quân sự Trung Quốc dưới nhãn quan tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương
Chiều hướng quân sự Trung Quốc dưới nhãn quan tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương
2007.07.30
Lê Dân - Nhã Trân, RFA
Trong bối cảnh một nước Trung Quốc ngày càng tiến gần đến mục tiêu là thành một cường quốc kinh tế, thì Bắc Kinh cũng không quên việc tăng cường sức mạnh quân sự để bảo vệ thành quả đó, đồng thời gia tăng ảnh hưởng chính trị ra khắp nơi.
Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe
Đô đốc Timothy Keating, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương phát biểu trong một cuộc họp báo tại toà đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh hôm 12-5-2007. AFP PHOTO
Toàn cảnh sự việc đó được Hoa Kỳ nhận xét ra sao qua nhãn quan của vị tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương ? Nhã Trân lược thuật qua những thông tin đô đốc Timothy Keating đưa ra trong cuộc họp báo hôm thứ Ba vừa qua tại Washington। Lời đắp giọng tiếng Việt do Lê Dân đọc.
Trong dịp về thủ đô họp cùng bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates và nhiều tư lệnh quân sự Mỹ khắp thế giới, hôm thứ Ba vừa qua đô đốc Timothy Keating, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giành cho báo chí buổi nói chuyện tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế tại Washington DC।
Người sĩ quan cao cấp từng gắn bó với vùng châu Á-Thái Bình Dương hàng thập niên qua đã trình bày những nhận xét của ông về những thay đổi lớn lao trong khu vực, từ kinh tế, xã hội cho đến quốc phòng. Dĩ nhiên, được chú ý hơn cả vẫn là nỗ lực nâng cao sức mạnh quân sự mà Bắc Kinh không ngừng theo đuổi và không hề muốn bị phơi bày.
Mở đầu cuộc họp báo, đô đốc Timothy Keating cho biết rất nhiều người cứ cho là bộ Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương hết sức quan tâm, lo lắng về những diễn tiến xoay quanh lực lượng quân sự Trung Quốc. Thực tế là Mỹ chẳng hề lo lắng gì.
Những dị biệt
Đô đốc Keating cho biết là dĩ nhiên có dị biệt giữa cách nhìn của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc với bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ về những tiến triển của sức mạnh vũ trang Trung Quốc:
Trung Quốc nói rằng nhu cầu về năng lượng của họ hết sức quan trọng, nhất là về dầu và than, cũng như nền mậu dịch hiện có giữa họ với các nước như Australia, hiện đã là đối tác lớn của Trung Quốc. Phần lớn nền thương mại đó phải trải qua hải phận của Trung Quốc và vì thế mà họ muốn xây dựng một lực lượng hải quân đủ sức bảo vệ các hải lộ quan yếu. Đó là điều mà Hoa Kỳ khó có thể bài bác được
Đô đốc Keating
“Trung Quốc nói rằng nhu cầu về năng lượng của họ hết sức quan trọng, nhất là về dầu và than, cũng như nền mậu dịch hiện có giữa họ với các nước như Australia, hiện đã là đối tác lớn của Trung Quốc. Phần lớn nền thương mại đó phải trải qua hải phận của Trung Quốc và vì thế mà họ muốn xây dựng một lực lượng hải quân đủ sức bảo vệ các hải lộ quan yếu. Đó là điều mà Hoa Kỳ khó có thể bài bác được”
Một điểm khá đặc biệt được báo giới chú ý là vấn đề Bắc Kinh thiết tha muốn chế tạo tàu sân bay vào khi nhiều cường quốc quân sự đang có khuynh hướng tiết giảm lượng tàu sân bay mà họ đang có. Lý do là với sức mạnh của khí tài quân sự hiện đại thì vai trò của tàu sân bay không còn ý nghĩa quyết định to lớn như trước. Đô đốc Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương cho biết :
“Họ rất quan tâm đến việc phát triển tàu sân bay. Một sĩ quan Quân đội Nhân dân nói với tôi như vậy. Chúng tôi đã có dịp thảo luận về việc này. Một số người biết rằng tôi rất quen thuộc với nhiều loại tàu sân bay. Đó là loại kỹ thuật rất khó sử dụng và tốn nhiều thời giờ.
Nó đắt tiền, tinh vi và nguy hiểm.....Họ đều bỏ qua những khó khăn đó, nói rằng Trung Quốc có quyền chế tạo tàu sân bay và không có gì ấn tượng và hùng vĩ hơn về hình ảnh hào hùng của một quốc gia bằng một chiếc tàu sân bay lướt sóng vào một bến cảng xa lạ.
Đó quả là một viễn tượng đẹp đối với một lực lượng hải quân không ai chối cãi được. Họ còn nêu lên sự hiệu quả của tàu sân bay Mỹ Abraham Lincoln trong công tác cứu trợ thiên tai sóng thần Indonesia và nói rằng Bắc Kinh cũng sẽ sử dụng tàu sân bay trong mục tiêu nhân đạo tương tự.”
Không đáng lo ngại
Dưới cái nhìn của người tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương thì nỗ lực chế tạo tàu sân bay của Trung Quốc không đáng lo ngại vì nó nặng về phần thể diện mà Bắc Kinh đang muốn nâng cao lên hết cỡ cho thế giới thấy, đặc biệt là tại những nước đang phát triển. Mỹ không quan tâm nhiều vì tàu sân bay không còn là một vũ khí chiến lược quan trọng hàng đầu như hồi mấy thập niên trước.
Tuy nhiên đối với các hoạt động nghiên cứu chế tạo tàu ngầm hiện đại của Trung Quốc thì Hoa Kỳ không thể làm ngơ. Đô đốc Timothy Keating cho biết:
“Họ đang cố gắng chế tạo thêm nhiều tàu ngầm, không phải loại quy ước, mà là loại dùng nhiên liệu hạt nhân. Chúng tôi quan sát cẩn thận và có thể nói rằng hiện Bắc Kinh chưa có tiến triển đáng kể nào, mà cũng chưa có dự đoán nào về tương lai khiến Hoa Kỳ phải lo ngại.
Điều đó không có nghĩa là không quan tâm. Việc Trung Quốc muốn có thêm tàu ngầm hoạt động tại Thái Bình Dương dĩ nhiên bộ Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương phải lưu ý. Điển hình như một vài tàu ngầm loại Tống của Trung Quốc bị phát hiện gần tàu sân bay Mỹ Kitty Hawk hồi gần đây. Họ không được phép hiện diện như vậy, vì đó là phần biển của Hoa Kỳ.
Đó là một trong những vấn đề mà chúng tôi đã nêu lên khi thăm Trung Quốc. Chúng tôi muốn giảm bớt, hoặc loại trừ hẳn, nhưng lãnh vực có thể gây ngộ nhận. Hiểu lầm có thể đưa đến nhiều khó khăn, như đối đầu căng thẳng.”
Hoa Kỳ muốn giảm thiểu đối đầu với Trung Quốc trên biển Thái Bình Dương, thế nhưng Bắc Kinh có đồng ý nghĩ như vậy hay không ? Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương kết luận bằng việc thuật lại một câu nói đùa của một quan chức hải quân cao cấp Trung Quốc:
“Một vị khách Trung Quốc nói đây là những gì mình nên làm. Các anh lo cho vùng Đông Thái Bình Dương, chúng tôi sẽ đảm nhiệm vùng Tây Thái Bình Dương, rồi ta sẽ liên hệ với nhau.”
Nhã Trân tường trình từ Washington DC.
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Đụng độ giữa công an và người biểu tình Trung Quốc
Thủ tướng Trung Quốc hứa trợ giúp nông dân đẩy mạnh sản xuất
Vụ hải quân Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam theo nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Văn Canh
Ý kiến của hai sĩ quan cao cấp thuộc Hải Quân VNCH về vụ Trung Quốc bắn chìm tàu ngư dân Việt Nam
Hà Nội thảo luận về việc tàu ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc bắn chìm
Hà Nội lên tiếng về vụ hải quân Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam
Giáo hội Công giáo Trung quốc mong Đức Giáo hoàng đến thăm Hoa lục
Tin thêm về vụ Hải quân Trung Quốc bắn vào tàu ngư dân Việt Nam
Trung Quốc ra lệnh đóng cửa bản tin “Tin Vắn Phát Triển Trung Quốc”
Gửi trang này cho bạn
2007.07.30
Lê Dân - Nhã Trân, RFA
Trong bối cảnh một nước Trung Quốc ngày càng tiến gần đến mục tiêu là thành một cường quốc kinh tế, thì Bắc Kinh cũng không quên việc tăng cường sức mạnh quân sự để bảo vệ thành quả đó, đồng thời gia tăng ảnh hưởng chính trị ra khắp nơi.
Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
Tải xuống để nghe
Đô đốc Timothy Keating, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương phát biểu trong một cuộc họp báo tại toà đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh hôm 12-5-2007. AFP PHOTO
Toàn cảnh sự việc đó được Hoa Kỳ nhận xét ra sao qua nhãn quan của vị tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương ? Nhã Trân lược thuật qua những thông tin đô đốc Timothy Keating đưa ra trong cuộc họp báo hôm thứ Ba vừa qua tại Washington। Lời đắp giọng tiếng Việt do Lê Dân đọc.
Trong dịp về thủ đô họp cùng bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates và nhiều tư lệnh quân sự Mỹ khắp thế giới, hôm thứ Ba vừa qua đô đốc Timothy Keating, tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đã giành cho báo chí buổi nói chuyện tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế tại Washington DC।
Người sĩ quan cao cấp từng gắn bó với vùng châu Á-Thái Bình Dương hàng thập niên qua đã trình bày những nhận xét của ông về những thay đổi lớn lao trong khu vực, từ kinh tế, xã hội cho đến quốc phòng. Dĩ nhiên, được chú ý hơn cả vẫn là nỗ lực nâng cao sức mạnh quân sự mà Bắc Kinh không ngừng theo đuổi và không hề muốn bị phơi bày.
Mở đầu cuộc họp báo, đô đốc Timothy Keating cho biết rất nhiều người cứ cho là bộ Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương hết sức quan tâm, lo lắng về những diễn tiến xoay quanh lực lượng quân sự Trung Quốc. Thực tế là Mỹ chẳng hề lo lắng gì.
Những dị biệt
Đô đốc Keating cho biết là dĩ nhiên có dị biệt giữa cách nhìn của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc với bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ về những tiến triển của sức mạnh vũ trang Trung Quốc:
Trung Quốc nói rằng nhu cầu về năng lượng của họ hết sức quan trọng, nhất là về dầu và than, cũng như nền mậu dịch hiện có giữa họ với các nước như Australia, hiện đã là đối tác lớn của Trung Quốc. Phần lớn nền thương mại đó phải trải qua hải phận của Trung Quốc và vì thế mà họ muốn xây dựng một lực lượng hải quân đủ sức bảo vệ các hải lộ quan yếu. Đó là điều mà Hoa Kỳ khó có thể bài bác được
Đô đốc Keating
“Trung Quốc nói rằng nhu cầu về năng lượng của họ hết sức quan trọng, nhất là về dầu và than, cũng như nền mậu dịch hiện có giữa họ với các nước như Australia, hiện đã là đối tác lớn của Trung Quốc. Phần lớn nền thương mại đó phải trải qua hải phận của Trung Quốc và vì thế mà họ muốn xây dựng một lực lượng hải quân đủ sức bảo vệ các hải lộ quan yếu. Đó là điều mà Hoa Kỳ khó có thể bài bác được”
Một điểm khá đặc biệt được báo giới chú ý là vấn đề Bắc Kinh thiết tha muốn chế tạo tàu sân bay vào khi nhiều cường quốc quân sự đang có khuynh hướng tiết giảm lượng tàu sân bay mà họ đang có. Lý do là với sức mạnh của khí tài quân sự hiện đại thì vai trò của tàu sân bay không còn ý nghĩa quyết định to lớn như trước. Đô đốc Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương cho biết :
“Họ rất quan tâm đến việc phát triển tàu sân bay. Một sĩ quan Quân đội Nhân dân nói với tôi như vậy. Chúng tôi đã có dịp thảo luận về việc này. Một số người biết rằng tôi rất quen thuộc với nhiều loại tàu sân bay. Đó là loại kỹ thuật rất khó sử dụng và tốn nhiều thời giờ.
Nó đắt tiền, tinh vi và nguy hiểm.....Họ đều bỏ qua những khó khăn đó, nói rằng Trung Quốc có quyền chế tạo tàu sân bay và không có gì ấn tượng và hùng vĩ hơn về hình ảnh hào hùng của một quốc gia bằng một chiếc tàu sân bay lướt sóng vào một bến cảng xa lạ.
Đó quả là một viễn tượng đẹp đối với một lực lượng hải quân không ai chối cãi được. Họ còn nêu lên sự hiệu quả của tàu sân bay Mỹ Abraham Lincoln trong công tác cứu trợ thiên tai sóng thần Indonesia và nói rằng Bắc Kinh cũng sẽ sử dụng tàu sân bay trong mục tiêu nhân đạo tương tự.”
Không đáng lo ngại
Dưới cái nhìn của người tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương thì nỗ lực chế tạo tàu sân bay của Trung Quốc không đáng lo ngại vì nó nặng về phần thể diện mà Bắc Kinh đang muốn nâng cao lên hết cỡ cho thế giới thấy, đặc biệt là tại những nước đang phát triển. Mỹ không quan tâm nhiều vì tàu sân bay không còn là một vũ khí chiến lược quan trọng hàng đầu như hồi mấy thập niên trước.
Tuy nhiên đối với các hoạt động nghiên cứu chế tạo tàu ngầm hiện đại của Trung Quốc thì Hoa Kỳ không thể làm ngơ. Đô đốc Timothy Keating cho biết:
“Họ đang cố gắng chế tạo thêm nhiều tàu ngầm, không phải loại quy ước, mà là loại dùng nhiên liệu hạt nhân. Chúng tôi quan sát cẩn thận và có thể nói rằng hiện Bắc Kinh chưa có tiến triển đáng kể nào, mà cũng chưa có dự đoán nào về tương lai khiến Hoa Kỳ phải lo ngại.
Điều đó không có nghĩa là không quan tâm. Việc Trung Quốc muốn có thêm tàu ngầm hoạt động tại Thái Bình Dương dĩ nhiên bộ Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương phải lưu ý. Điển hình như một vài tàu ngầm loại Tống của Trung Quốc bị phát hiện gần tàu sân bay Mỹ Kitty Hawk hồi gần đây. Họ không được phép hiện diện như vậy, vì đó là phần biển của Hoa Kỳ.
Đó là một trong những vấn đề mà chúng tôi đã nêu lên khi thăm Trung Quốc. Chúng tôi muốn giảm bớt, hoặc loại trừ hẳn, nhưng lãnh vực có thể gây ngộ nhận. Hiểu lầm có thể đưa đến nhiều khó khăn, như đối đầu căng thẳng.”
Hoa Kỳ muốn giảm thiểu đối đầu với Trung Quốc trên biển Thái Bình Dương, thế nhưng Bắc Kinh có đồng ý nghĩ như vậy hay không ? Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương kết luận bằng việc thuật lại một câu nói đùa của một quan chức hải quân cao cấp Trung Quốc:
“Một vị khách Trung Quốc nói đây là những gì mình nên làm. Các anh lo cho vùng Đông Thái Bình Dương, chúng tôi sẽ đảm nhiệm vùng Tây Thái Bình Dương, rồi ta sẽ liên hệ với nhau.”
Nhã Trân tường trình từ Washington DC.
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Đụng độ giữa công an và người biểu tình Trung Quốc
Thủ tướng Trung Quốc hứa trợ giúp nông dân đẩy mạnh sản xuất
Vụ hải quân Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam theo nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Văn Canh
Ý kiến của hai sĩ quan cao cấp thuộc Hải Quân VNCH về vụ Trung Quốc bắn chìm tàu ngư dân Việt Nam
Hà Nội thảo luận về việc tàu ngư dân Việt Nam bị hải quân Trung Quốc bắn chìm
Hà Nội lên tiếng về vụ hải quân Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam
Giáo hội Công giáo Trung quốc mong Đức Giáo hoàng đến thăm Hoa lục
Tin thêm về vụ Hải quân Trung Quốc bắn vào tàu ngư dân Việt Nam
Trung Quốc ra lệnh đóng cửa bản tin “Tin Vắn Phát Triển Trung Quốc”
Gửi trang này cho bạn
Ma Trung Quốc
Ma Trung Quốc
Roger Mitton - Phan Tường Vi lược dịch
DCVOnline: Như đã đưa tin hôm 17 tháng 7 trong bài Chiến hạm Hoa Kỳ ghé Việt Nam ( http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3619 ). USS Peleliu đã ghé cảng Đà Nẵng trong hai tuần qua. Nhưng rất tiếc, đoàn y tế thiện nguyện đa quốc gia của tàu đã không được phép cung cấp tất cả những dịch vụ họ có khả năng và đã chuẩn bị bởi sự cấm đoán xảy ra ở phút cuối từ phía Hà Nội. Theo phóng viên Roger Mitton của tờ Straits Times, lý do nằm đằng sau là Bắc Kinh vốn hằn học với những quan hệ có khả năng dẫn đến những hợp tác quân sự đang có chiều hướng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Và Hà Nội không muốn chọc giận Bắc Kinh!
Việt Nam hạn chế sự hoạt động của đoàn y tế Hoa Kỳ.
Thành viên của phái đoàn y tế hùng hậu do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản hạn chế ở phút cuối, như là một động thái hiển nhiên của Việt Nam nhằm mục đích tránh làm Trung Quốc nổi giận.
Trung Quốc vốn có cái nhìn hằn học đối với quan hệ quân sự đang gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Sự hạn chế đột ngột ngăn chận các bác sĩ của đoàn y tế Hoa Kỳ, cũng như bác sĩ từ bảy quốc gia khác kể cả Singapore, thực hiện những ca mổ cho bệnh nhân Việt Nam.
Công tác cứu trợ y tế bắt đầu từ hai tuần trước khi chiến hạm USS Peleliu, ghé vào Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam với một thủy thủ đoàn gồm 1,200 người được tăng cường với 300 chuyên viên trong ngành y tế.
Tuy thành viên của phái đoàn y tế ngoại quốc này đa phần là người Hoa Kỳ, nhưng đoàn cũng bao gồm bác sĩ từ các nước khác như Singapore, Ấn Độ (India), Mã Lai Á (malaysia), Nhật Bản, Nam Triều Tiên (South Koea), Gia Nã Đại (Canada) và Úc Đại Lợi (Australia).
Phi đoàn Hải Long của chiến hạm Peleliu được dùng để vận chuyển bệnh nhânNguồn: navybuddies.com
--------------------------------------------------------------------------------
Chiến hạm Peleliu ghé Việt Nam sau khi dừng chân ở Phi Luật Tân, nơi mà phái đoàn y tế đa quốc gia đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế. Trong thời gian đó, phi đoàn trực thăng Hải Long trên tàu (Sea Dragon) đã vận chuyển bệnh nhân Phi Luật Tân từ bờ ra tàu và ngược lại cho 160 ca mỗ được thực hiện trong hai phòng mỗ ở trên tàu.
Nhưng chính quyền Việt Nam ngăn cấm việc sử dụng máy bay trực thăng Hoa Kỳ vận chuyển bệnh nhân ra tàu để được mổ trên chiến hạm Peleliu, những sĩ quan (trên chiến hạm) nói như trên.
Một bác sĩ quân y Nhật Bản nói với tờ Straits Times: “Đã không có ca mổ nào vì Bộ Y tế Việt Nam không cho phép. Thật là thất vọng.”
Những sĩ quan khác xác nhận họ chỉ được phép cung cấp những lời cố vấn và trao đổi quan điểm với đối tác Việt Nam.
Sự cấm đoán ở phút cuối cùng này Hà Nội áp đặt căn bản là để tránh gây sự phẫn nộ từ phía Trung Quốc.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Viện Phòng thủ Úc Đại Lợi nói: “Tất cả những hoạt động hợp tác phòng thủ với Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam cân nhắc đến sự lợi hại liên quan đến quan hệ với Bắc Kinh.”
Theo một nguồn tin nắm vững sự vụ này trong Đảng nói với tờ Straits Times: “Chúng tôi muốn để thủy thủ đoàn của chiến hạm Hoa Kỳ làm những điều họ muốn làm (trong công tác y tế thiện nguyện), nhưng chúng tôi phải hạn chế họ nếu không muốn làm Bắc Kinh nổi cáu.”
Tuy có những sự trở ngại kể trên, đoàn đã đạt được những thành qủa đáng kể. Khoảng 2,300 bệnh nhân được nhân viên của nhóm y tế (vào được bờ) khám bệnh.
Nhưng chính sự hạn chế khả năng phục vụ của phái đoàn y tế đã làm thất vọng nhiều người.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Marine đang lắng nghe Trung tá Jay Geistkemper, tiểu đoàn 3 Quân Y trình bày nghiệm pháp chữa răng ở trạm y tế Nai Hiem DongNguồn: navy.mil
--------------------------------------------------------------------------------
Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Michael Marine nói: “Tôi chia sẻ sự thất vọng này ở một chừng mực nào đó bởi vì nếu chúng ta được phép cung cấp đầy đủ những dịch vụ y tế trong khả năng của mình, thì ắt hẳn những công tác y tế thiện nguyện này sẽ thành công. Nhưng tôi lấy làm rất vui với những gì mà mình đã có thể làm được.”
© DCVOnline
Ma Trung Quốc
Roger Mitton - Phan Tường Vi lược dịch
DCVOnline: Như đã đưa tin hôm 17 tháng 7 trong bài Chiến hạm Hoa Kỳ ghé Việt Nam. USS Peleliu đã ghé cảng Đà Nẵng trong hai tuần qua. Nhưng rất tiếc, đoàn y tế thiện nguyện đa quốc gia của tàu đã không được phép cung cấp tất cả những dịch vụ họ có khả năng và đã chuẩn bị bởi sự cấm đoán xảy ra ở phút cuối từ phía Hà Nội. Theo phóng viên Roger Mitton của tờ Straits Times, lý do nằm đằng sau là Bắc Kinh vốn hằn học với những quan hệ có khả năng dẫn đến những hợp tác quân sự đang có chiều hướng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Và Hà Nội không muốn chọc giận Bắc Kinh!
Việt Nam hạn chế sự hoạt động của đoàn y tế Hoa Kỳ.
Thành viên của phái đoàn y tế hùng hậu do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản hạn chế ở phút cuối, như là một động thái hiển nhiên của Việt Nam nhằm mục đích tránh làm Trung Quốc nổi giận.
Trung Quốc vốn có cái nhìn hằn học đối với quan hệ quân sự đang gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Sự hạn chế đột ngột ngăn chận các bác sĩ của đoàn y tế Hoa Kỳ, cũng như bác sĩ từ bảy quốc gia khác kể cả Singapore, thực hiện những ca mổ cho bệnh nhân Việt Nam.
Công tác cứu trợ y tế bắt đầu từ hai tuần trước khi chiến hạm USS Peleliu, ghé vào Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam với một thủy thủ đoàn gồm 1,200 người được tăng cường với 300 chuyên viên trong ngành y tế.
Tuy thành viên của phái đoàn y tế ngoại quốc này đa phần là người Hoa Kỳ, nhưng đoàn cũng bao gồm bác sĩ từ các nước khác như Singapore, Ấn Độ (India), Mã Lai Á (malaysia), Nhật Bản, Nam Triều Tiên (South Koea), Gia Nã Đại (Canada) và Úc Đại Lợi (Australia).
Phi đoàn Hải Long của chiến hạm Peleliu được dùng để vận chuyển bệnh nhânNguồn: navybuddies.com
--------------------------------------------------------------------------------
Chiến hạm Peleliu ghé Việt Nam sau khi dừng chân ở Phi Luật Tân, nơi mà phái đoàn y tế đa quốc gia đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế. Trong thời gian đó, phi đoàn trực thăng Hải Long trên tàu (Sea Dragon) đã vận chuyển bệnh nhân Phi Luật Tân từ bờ ra tàu và ngược lại cho 160 ca mỗ được thực hiện trong hai phòng mỗ ở trên tàu.
Nhưng chính quyền Việt Nam ngăn cấm việc sử dụng máy bay trực thăng Hoa Kỳ vận chuyển bệnh nhân ra tàu để được mổ trên chiến hạm Peleliu, những sĩ quan (trên chiến hạm) nói như trên.
Một bác sĩ quân y Nhật Bản nói với tờ Straits Times: “Đã không có ca mổ nào vì Bộ Y tế Việt Nam không cho phép. Thật là thất vọng.”
Những sĩ quan khác xác nhận họ chỉ được phép cung cấp những lời cố vấn và trao đổi quan điểm với đối tác Việt Nam.
Sự cấm đoán ở phút cuối cùng này Hà Nội áp đặt căn bản là để tránh gây sự phẫn nộ từ phía Trung Quốc.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Viện Phòng thủ Úc Đại Lợi nói: “Tất cả những hoạt động hợp tác phòng thủ với Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam cân nhắc đến sự lợi hại liên quan đến quan hệ với Bắc Kinh.”
Theo một nguồn tin nắm vững sự vụ này trong Đảng nói với tờ Straits Times: “Chúng tôi muốn để thủy thủ đoàn của chiến hạm Hoa Kỳ làm những điều họ muốn làm (trong công tác y tế thiện nguyện), nhưng chúng tôi phải hạn chế họ nếu không muốn làm Bắc Kinh nổi cáu.”
Tuy có những sự trở ngại kể trên, đoàn đã đạt được những thành qủa đáng kể. Khoảng 2,300 bệnh nhân được nhân viên của nhóm y tế (vào được bờ) khám bệnh.
Nhưng chính sự hạn chế khả năng phục vụ của phái đoàn y tế đã làm thất vọng nhiều người.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Marine đang lắng nghe Trung tá Jay Geistkemper, tiểu đoàn 3 Quân Y trình bày nghiệm pháp chữa răng ở trạm y tế Nai Hiem DongNguồn: navy.mil
--------------------------------------------------------------------------------
Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Michael Marine nói: “Tôi chia sẻ sự thất vọng này ở một chừng mực nào đó bởi vì nếu chúng ta được phép cung cấp đầy đủ những dịch vụ y tế trong khả năng của mình, thì ắt hẳn những công tác y tế thiện nguyện này sẽ thành công. Nhưng tôi lấy làm rất vui với những gì mà mình đã có thể làm được.”
© DCVOnline
Ma Trung Quốc
Roger Mitton - Phan Tường Vi lược dịch
DCVOnline: Như đã đưa tin hôm 17 tháng 7 trong bài Chiến hạm Hoa Kỳ ghé Việt Nam. USS Peleliu đã ghé cảng Đà Nẵng trong hai tuần qua. Nhưng rất tiếc, đoàn y tế thiện nguyện đa quốc gia của tàu đã không được phép cung cấp tất cả những dịch vụ họ có khả năng và đã chuẩn bị bởi sự cấm đoán xảy ra ở phút cuối từ phía Hà Nội. Theo phóng viên Roger Mitton của tờ Straits Times, lý do nằm đằng sau là Bắc Kinh vốn hằn học với những quan hệ có khả năng dẫn đến những hợp tác quân sự đang có chiều hướng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Và Hà Nội không muốn chọc giận Bắc Kinh!
Việt Nam hạn chế sự hoạt động của đoàn y tế Hoa Kỳ.
Thành viên của phái đoàn y tế hùng hậu do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản hạn chế ở phút cuối, như là một động thái hiển nhiên của Việt Nam nhằm mục đích tránh làm Trung Quốc nổi giận.
Trung Quốc vốn có cái nhìn hằn học đối với quan hệ quân sự đang gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Sự hạn chế đột ngột ngăn chận các bác sĩ của đoàn y tế Hoa Kỳ, cũng như bác sĩ từ bảy quốc gia khác kể cả Singapore, thực hiện những ca mổ cho bệnh nhân Việt Nam.
Công tác cứu trợ y tế bắt đầu từ hai tuần trước khi chiến hạm USS Peleliu, ghé vào Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam với một thủy thủ đoàn gồm 1,200 người được tăng cường với 300 chuyên viên trong ngành y tế.
Tuy thành viên của phái đoàn y tế ngoại quốc này đa phần là người Hoa Kỳ, nhưng đoàn cũng bao gồm bác sĩ từ các nước khác như Singapore, Ấn Độ (India), Mã Lai Á (malaysia), Nhật Bản, Nam Triều Tiên (South Koea), Gia Nã Đại (Canada) và Úc Đại Lợi (Australia).
Phi đoàn Hải Long của chiến hạm Peleliu được dùng để vận chuyển bệnh nhânNguồn: navybuddies.com
--------------------------------------------------------------------------------
Chiến hạm Peleliu ghé Việt Nam sau khi dừng chân ở Phi Luật Tân, nơi mà phái đoàn y tế đa quốc gia đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế. Trong thời gian đó, phi đoàn trực thăng Hải Long trên tàu (Sea Dragon) đã vận chuyển bệnh nhân Phi Luật Tân từ bờ ra tàu và ngược lại cho 160 ca mỗ được thực hiện trong hai phòng mỗ ở trên tàu.
Nhưng chính quyền Việt Nam ngăn cấm việc sử dụng máy bay trực thăng Hoa Kỳ vận chuyển bệnh nhân ra tàu để được mổ trên chiến hạm Peleliu, những sĩ quan (trên chiến hạm) nói như trên.
Một bác sĩ quân y Nhật Bản nói với tờ Straits Times: “Đã không có ca mổ nào vì Bộ Y tế Việt Nam không cho phép. Thật là thất vọng.”
Những sĩ quan khác xác nhận họ chỉ được phép cung cấp những lời cố vấn và trao đổi quan điểm với đối tác Việt Nam.
Sự cấm đoán ở phút cuối cùng này Hà Nội áp đặt căn bản là để tránh gây sự phẫn nộ từ phía Trung Quốc.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Viện Phòng thủ Úc Đại Lợi nói: “Tất cả những hoạt động hợp tác phòng thủ với Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam cân nhắc đến sự lợi hại liên quan đến quan hệ với Bắc Kinh.”
Theo một nguồn tin nắm vững sự vụ này trong Đảng nói với tờ Straits Times: “Chúng tôi muốn để thủy thủ đoàn của chiến hạm Hoa Kỳ làm những điều họ muốn làm (trong công tác y tế thiện nguyện), nhưng chúng tôi phải hạn chế họ nếu không muốn làm Bắc Kinh nổi cáu.”
Tuy có những sự trở ngại kể trên, đoàn đã đạt được những thành qủa đáng kể. Khoảng 2,300 bệnh nhân được nhân viên của nhóm y tế (vào được bờ) khám bệnh.
Nhưng chính sự hạn chế khả năng phục vụ của phái đoàn y tế đã làm thất vọng nhiều người.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Marine đang lắng nghe Trung tá Jay Geistkemper, tiểu đoàn 3 Quân Y trình bày nghiệm pháp chữa răng ở trạm y tế Nai Hiem DongNguồn: navy.mil
--------------------------------------------------------------------------------
Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Michael Marine nói: “Tôi chia sẻ sự thất vọng này ở một chừng mực nào đó bởi vì nếu chúng ta được phép cung cấp đầy đủ những dịch vụ y tế trong khả năng của mình, thì ắt hẳn những công tác y tế thiện nguyện này sẽ thành công. Nhưng tôi lấy làm rất vui với những gì mà mình đã có thể làm được.”
© DCVOnline
s
"độc lập" ? bóng ma TC
"tự do" ? dân bị bưng bít, bịt miệng, không có tiếng nói; đảng thì sợ bóng ma TC
"hạnh phúc" ? chỉ có chết trong "hạnh phúc"
Roger Mitton - Phan Tường Vi lược dịch
DCVOnline: Như đã đưa tin hôm 17 tháng 7 trong bài Chiến hạm Hoa Kỳ ghé Việt Nam ( http://www.danchimviet.com/php/modules.php?name=News&file=article&sid=3619 ). USS Peleliu đã ghé cảng Đà Nẵng trong hai tuần qua. Nhưng rất tiếc, đoàn y tế thiện nguyện đa quốc gia của tàu đã không được phép cung cấp tất cả những dịch vụ họ có khả năng và đã chuẩn bị bởi sự cấm đoán xảy ra ở phút cuối từ phía Hà Nội. Theo phóng viên Roger Mitton của tờ Straits Times, lý do nằm đằng sau là Bắc Kinh vốn hằn học với những quan hệ có khả năng dẫn đến những hợp tác quân sự đang có chiều hướng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Và Hà Nội không muốn chọc giận Bắc Kinh!
Việt Nam hạn chế sự hoạt động của đoàn y tế Hoa Kỳ.
Thành viên của phái đoàn y tế hùng hậu do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản hạn chế ở phút cuối, như là một động thái hiển nhiên của Việt Nam nhằm mục đích tránh làm Trung Quốc nổi giận.
Trung Quốc vốn có cái nhìn hằn học đối với quan hệ quân sự đang gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Sự hạn chế đột ngột ngăn chận các bác sĩ của đoàn y tế Hoa Kỳ, cũng như bác sĩ từ bảy quốc gia khác kể cả Singapore, thực hiện những ca mổ cho bệnh nhân Việt Nam.
Công tác cứu trợ y tế bắt đầu từ hai tuần trước khi chiến hạm USS Peleliu, ghé vào Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam với một thủy thủ đoàn gồm 1,200 người được tăng cường với 300 chuyên viên trong ngành y tế.
Tuy thành viên của phái đoàn y tế ngoại quốc này đa phần là người Hoa Kỳ, nhưng đoàn cũng bao gồm bác sĩ từ các nước khác như Singapore, Ấn Độ (India), Mã Lai Á (malaysia), Nhật Bản, Nam Triều Tiên (South Koea), Gia Nã Đại (Canada) và Úc Đại Lợi (Australia).
Phi đoàn Hải Long của chiến hạm Peleliu được dùng để vận chuyển bệnh nhânNguồn: navybuddies.com
--------------------------------------------------------------------------------
Chiến hạm Peleliu ghé Việt Nam sau khi dừng chân ở Phi Luật Tân, nơi mà phái đoàn y tế đa quốc gia đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế. Trong thời gian đó, phi đoàn trực thăng Hải Long trên tàu (Sea Dragon) đã vận chuyển bệnh nhân Phi Luật Tân từ bờ ra tàu và ngược lại cho 160 ca mỗ được thực hiện trong hai phòng mỗ ở trên tàu.
Nhưng chính quyền Việt Nam ngăn cấm việc sử dụng máy bay trực thăng Hoa Kỳ vận chuyển bệnh nhân ra tàu để được mổ trên chiến hạm Peleliu, những sĩ quan (trên chiến hạm) nói như trên.
Một bác sĩ quân y Nhật Bản nói với tờ Straits Times: “Đã không có ca mổ nào vì Bộ Y tế Việt Nam không cho phép. Thật là thất vọng.”
Những sĩ quan khác xác nhận họ chỉ được phép cung cấp những lời cố vấn và trao đổi quan điểm với đối tác Việt Nam.
Sự cấm đoán ở phút cuối cùng này Hà Nội áp đặt căn bản là để tránh gây sự phẫn nộ từ phía Trung Quốc.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Viện Phòng thủ Úc Đại Lợi nói: “Tất cả những hoạt động hợp tác phòng thủ với Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam cân nhắc đến sự lợi hại liên quan đến quan hệ với Bắc Kinh.”
Theo một nguồn tin nắm vững sự vụ này trong Đảng nói với tờ Straits Times: “Chúng tôi muốn để thủy thủ đoàn của chiến hạm Hoa Kỳ làm những điều họ muốn làm (trong công tác y tế thiện nguyện), nhưng chúng tôi phải hạn chế họ nếu không muốn làm Bắc Kinh nổi cáu.”
Tuy có những sự trở ngại kể trên, đoàn đã đạt được những thành qủa đáng kể. Khoảng 2,300 bệnh nhân được nhân viên của nhóm y tế (vào được bờ) khám bệnh.
Nhưng chính sự hạn chế khả năng phục vụ của phái đoàn y tế đã làm thất vọng nhiều người.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Marine đang lắng nghe Trung tá Jay Geistkemper, tiểu đoàn 3 Quân Y trình bày nghiệm pháp chữa răng ở trạm y tế Nai Hiem DongNguồn: navy.mil
--------------------------------------------------------------------------------
Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Michael Marine nói: “Tôi chia sẻ sự thất vọng này ở một chừng mực nào đó bởi vì nếu chúng ta được phép cung cấp đầy đủ những dịch vụ y tế trong khả năng của mình, thì ắt hẳn những công tác y tế thiện nguyện này sẽ thành công. Nhưng tôi lấy làm rất vui với những gì mà mình đã có thể làm được.”
© DCVOnline
Ma Trung Quốc
Roger Mitton - Phan Tường Vi lược dịch
DCVOnline: Như đã đưa tin hôm 17 tháng 7 trong bài Chiến hạm Hoa Kỳ ghé Việt Nam. USS Peleliu đã ghé cảng Đà Nẵng trong hai tuần qua. Nhưng rất tiếc, đoàn y tế thiện nguyện đa quốc gia của tàu đã không được phép cung cấp tất cả những dịch vụ họ có khả năng và đã chuẩn bị bởi sự cấm đoán xảy ra ở phút cuối từ phía Hà Nội. Theo phóng viên Roger Mitton của tờ Straits Times, lý do nằm đằng sau là Bắc Kinh vốn hằn học với những quan hệ có khả năng dẫn đến những hợp tác quân sự đang có chiều hướng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Và Hà Nội không muốn chọc giận Bắc Kinh!
Việt Nam hạn chế sự hoạt động của đoàn y tế Hoa Kỳ.
Thành viên của phái đoàn y tế hùng hậu do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản hạn chế ở phút cuối, như là một động thái hiển nhiên của Việt Nam nhằm mục đích tránh làm Trung Quốc nổi giận.
Trung Quốc vốn có cái nhìn hằn học đối với quan hệ quân sự đang gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Sự hạn chế đột ngột ngăn chận các bác sĩ của đoàn y tế Hoa Kỳ, cũng như bác sĩ từ bảy quốc gia khác kể cả Singapore, thực hiện những ca mổ cho bệnh nhân Việt Nam.
Công tác cứu trợ y tế bắt đầu từ hai tuần trước khi chiến hạm USS Peleliu, ghé vào Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam với một thủy thủ đoàn gồm 1,200 người được tăng cường với 300 chuyên viên trong ngành y tế.
Tuy thành viên của phái đoàn y tế ngoại quốc này đa phần là người Hoa Kỳ, nhưng đoàn cũng bao gồm bác sĩ từ các nước khác như Singapore, Ấn Độ (India), Mã Lai Á (malaysia), Nhật Bản, Nam Triều Tiên (South Koea), Gia Nã Đại (Canada) và Úc Đại Lợi (Australia).
Phi đoàn Hải Long của chiến hạm Peleliu được dùng để vận chuyển bệnh nhânNguồn: navybuddies.com
--------------------------------------------------------------------------------
Chiến hạm Peleliu ghé Việt Nam sau khi dừng chân ở Phi Luật Tân, nơi mà phái đoàn y tế đa quốc gia đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế. Trong thời gian đó, phi đoàn trực thăng Hải Long trên tàu (Sea Dragon) đã vận chuyển bệnh nhân Phi Luật Tân từ bờ ra tàu và ngược lại cho 160 ca mỗ được thực hiện trong hai phòng mỗ ở trên tàu.
Nhưng chính quyền Việt Nam ngăn cấm việc sử dụng máy bay trực thăng Hoa Kỳ vận chuyển bệnh nhân ra tàu để được mổ trên chiến hạm Peleliu, những sĩ quan (trên chiến hạm) nói như trên.
Một bác sĩ quân y Nhật Bản nói với tờ Straits Times: “Đã không có ca mổ nào vì Bộ Y tế Việt Nam không cho phép. Thật là thất vọng.”
Những sĩ quan khác xác nhận họ chỉ được phép cung cấp những lời cố vấn và trao đổi quan điểm với đối tác Việt Nam.
Sự cấm đoán ở phút cuối cùng này Hà Nội áp đặt căn bản là để tránh gây sự phẫn nộ từ phía Trung Quốc.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Viện Phòng thủ Úc Đại Lợi nói: “Tất cả những hoạt động hợp tác phòng thủ với Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam cân nhắc đến sự lợi hại liên quan đến quan hệ với Bắc Kinh.”
Theo một nguồn tin nắm vững sự vụ này trong Đảng nói với tờ Straits Times: “Chúng tôi muốn để thủy thủ đoàn của chiến hạm Hoa Kỳ làm những điều họ muốn làm (trong công tác y tế thiện nguyện), nhưng chúng tôi phải hạn chế họ nếu không muốn làm Bắc Kinh nổi cáu.”
Tuy có những sự trở ngại kể trên, đoàn đã đạt được những thành qủa đáng kể. Khoảng 2,300 bệnh nhân được nhân viên của nhóm y tế (vào được bờ) khám bệnh.
Nhưng chính sự hạn chế khả năng phục vụ của phái đoàn y tế đã làm thất vọng nhiều người.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Marine đang lắng nghe Trung tá Jay Geistkemper, tiểu đoàn 3 Quân Y trình bày nghiệm pháp chữa răng ở trạm y tế Nai Hiem DongNguồn: navy.mil
--------------------------------------------------------------------------------
Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Michael Marine nói: “Tôi chia sẻ sự thất vọng này ở một chừng mực nào đó bởi vì nếu chúng ta được phép cung cấp đầy đủ những dịch vụ y tế trong khả năng của mình, thì ắt hẳn những công tác y tế thiện nguyện này sẽ thành công. Nhưng tôi lấy làm rất vui với những gì mà mình đã có thể làm được.”
© DCVOnline
Ma Trung Quốc
Roger Mitton - Phan Tường Vi lược dịch
DCVOnline: Như đã đưa tin hôm 17 tháng 7 trong bài Chiến hạm Hoa Kỳ ghé Việt Nam. USS Peleliu đã ghé cảng Đà Nẵng trong hai tuần qua. Nhưng rất tiếc, đoàn y tế thiện nguyện đa quốc gia của tàu đã không được phép cung cấp tất cả những dịch vụ họ có khả năng và đã chuẩn bị bởi sự cấm đoán xảy ra ở phút cuối từ phía Hà Nội. Theo phóng viên Roger Mitton của tờ Straits Times, lý do nằm đằng sau là Bắc Kinh vốn hằn học với những quan hệ có khả năng dẫn đến những hợp tác quân sự đang có chiều hướng gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Và Hà Nội không muốn chọc giận Bắc Kinh!
Việt Nam hạn chế sự hoạt động của đoàn y tế Hoa Kỳ.
Thành viên của phái đoàn y tế hùng hậu do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho Việt Nam đã bị chính quyền cộng sản hạn chế ở phút cuối, như là một động thái hiển nhiên của Việt Nam nhằm mục đích tránh làm Trung Quốc nổi giận.
Trung Quốc vốn có cái nhìn hằn học đối với quan hệ quân sự đang gia tăng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Sự hạn chế đột ngột ngăn chận các bác sĩ của đoàn y tế Hoa Kỳ, cũng như bác sĩ từ bảy quốc gia khác kể cả Singapore, thực hiện những ca mổ cho bệnh nhân Việt Nam.
Công tác cứu trợ y tế bắt đầu từ hai tuần trước khi chiến hạm USS Peleliu, ghé vào Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam với một thủy thủ đoàn gồm 1,200 người được tăng cường với 300 chuyên viên trong ngành y tế.
Tuy thành viên của phái đoàn y tế ngoại quốc này đa phần là người Hoa Kỳ, nhưng đoàn cũng bao gồm bác sĩ từ các nước khác như Singapore, Ấn Độ (India), Mã Lai Á (malaysia), Nhật Bản, Nam Triều Tiên (South Koea), Gia Nã Đại (Canada) và Úc Đại Lợi (Australia).
Phi đoàn Hải Long của chiến hạm Peleliu được dùng để vận chuyển bệnh nhânNguồn: navybuddies.com
--------------------------------------------------------------------------------
Chiến hạm Peleliu ghé Việt Nam sau khi dừng chân ở Phi Luật Tân, nơi mà phái đoàn y tế đa quốc gia đã cung cấp nhiều dịch vụ y tế. Trong thời gian đó, phi đoàn trực thăng Hải Long trên tàu (Sea Dragon) đã vận chuyển bệnh nhân Phi Luật Tân từ bờ ra tàu và ngược lại cho 160 ca mỗ được thực hiện trong hai phòng mỗ ở trên tàu.
Nhưng chính quyền Việt Nam ngăn cấm việc sử dụng máy bay trực thăng Hoa Kỳ vận chuyển bệnh nhân ra tàu để được mổ trên chiến hạm Peleliu, những sĩ quan (trên chiến hạm) nói như trên.
Một bác sĩ quân y Nhật Bản nói với tờ Straits Times: “Đã không có ca mổ nào vì Bộ Y tế Việt Nam không cho phép. Thật là thất vọng.”
Những sĩ quan khác xác nhận họ chỉ được phép cung cấp những lời cố vấn và trao đổi quan điểm với đối tác Việt Nam.
Sự cấm đoán ở phút cuối cùng này Hà Nội áp đặt căn bản là để tránh gây sự phẫn nộ từ phía Trung Quốc.
Giáo sư Carlyle Thayer, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam của Viện Phòng thủ Úc Đại Lợi nói: “Tất cả những hoạt động hợp tác phòng thủ với Hoa Kỳ được chính phủ Việt Nam cân nhắc đến sự lợi hại liên quan đến quan hệ với Bắc Kinh.”
Theo một nguồn tin nắm vững sự vụ này trong Đảng nói với tờ Straits Times: “Chúng tôi muốn để thủy thủ đoàn của chiến hạm Hoa Kỳ làm những điều họ muốn làm (trong công tác y tế thiện nguyện), nhưng chúng tôi phải hạn chế họ nếu không muốn làm Bắc Kinh nổi cáu.”
Tuy có những sự trở ngại kể trên, đoàn đã đạt được những thành qủa đáng kể. Khoảng 2,300 bệnh nhân được nhân viên của nhóm y tế (vào được bờ) khám bệnh.
Nhưng chính sự hạn chế khả năng phục vụ của phái đoàn y tế đã làm thất vọng nhiều người.
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Marine đang lắng nghe Trung tá Jay Geistkemper, tiểu đoàn 3 Quân Y trình bày nghiệm pháp chữa răng ở trạm y tế Nai Hiem DongNguồn: navy.mil
--------------------------------------------------------------------------------
Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, ông Michael Marine nói: “Tôi chia sẻ sự thất vọng này ở một chừng mực nào đó bởi vì nếu chúng ta được phép cung cấp đầy đủ những dịch vụ y tế trong khả năng của mình, thì ắt hẳn những công tác y tế thiện nguyện này sẽ thành công. Nhưng tôi lấy làm rất vui với những gì mà mình đã có thể làm được.”
© DCVOnline
s
"độc lập" ? bóng ma TC
"tự do" ? dân bị bưng bít, bịt miệng, không có tiếng nói; đảng thì sợ bóng ma TC
"hạnh phúc" ? chỉ có chết trong "hạnh phúc"
Trung Quốc nguy hiểm hơn cả Bin Laden
Trung Quốc nguy hiểm hơn cả Bin Laden
Lê Diễn Đức - Nhật báo GW phỏng vấn Steven Mosher

Người dịch: Về tham vọng bá quyền của Trung Quốc không có gì lạ, nhất là đối với những nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Steven Mosher, một chuyên gia danh tiếng của Hoa Kỳ chuyên nghiên cứu về Trung Quốc sẽ cho chúng ta thêm những nhận định xác thực và bối cảnh toàn cầu hiện nay qua phỏng vấn của nhật báo Ba Lan “Gazeta Wyborcza” (GW). (1)
Tham vọng của Trung Nam Hải rất lớn và Bắc Kinh không từ bỏ một âm mưu nào để tiến tới mục đích giành vị thế cường quốc cao nhất trên thế giới. Nhưng liệu Hoa Kỳ và các nước đồng minh có để yên cho Trung Quốc tự tung tự tác? Nếu không phải là cuộc chiến nguyên tử xảy ra và cả hai bên đều huỷ diệt lẫn nhau, thì, với vũ khí hiện đại thông thường, khi nào Trung Quốc mới có đủ tiềm lực đối đầu trực tiếp với Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO)? Cần chú ý rằng, công nghệ sản xuất vũ khí và trang thiết bị quân sự của Trung Quốc so với Hoa Kỳ hiện tại còn một khoảng cách khá dài.
Các nước láng giềng của Trung Quốc chắc chắn cũng không khoanh tay, thụ động chờ đợi.
Nhật Bản đang bỏ hàng tỷ đô la cùng Hoa Kỳ lập kế hoạch xây dựng hệ thống lá chắn tên lửa. Australia đã ký hiệp ước liên minh quân sự với Nhật cách đây vài tháng. Theo tin PAP ngày 30/07/2007, Hoa Kỳ và Ấn Độ đã thoả thuận xong các chi tiết cụ thể của hiệp định hợp tác về năng lượng hạt nhân hoà bình và quốc hội Hoa Kỳ sẽ phê chuẩn nay mai…
Trừ đảng cộng sản Việt Nam chỉ vì quyền lợi ích kỷ của đảng mà ngậm miệng ăn tiền, cúi đầu chịu nhục trước những khiêu khích thô bạo và âm mưu bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh, chà đạp lên danh dự và tinh thần chống ngoại xâm bất khuất ngàn đời của dân tộc Việt.
Có khoảng 70% (tức gần 800 triệu người) sống ở nông thôn nghèo khó, thu nhập dưới 1 USD/ngày, chịu hậu quả ô nhiễm môi sinh nặng nề, thiên tai tàn phá liên tục, thiếu nguồn nước sạch cho sinh hoạt, không bảo hiểm y tế, v.v… Thay vì lấy lợi ích từ phát triển kinh tế để nâng cao đời sống cho người lao động, Trung Nam Hải đổ tiền vào cuộc chạy đua vũ trang, không chỉ riêng với Hoa Kỳ mà còn thách thức với cả cộng đồng các quốc gia dân chủ mà trong đó có nhiều nước giàu có và hùng mạnh khác như Pháp, Đức, Italy, Anh, Canada, Nhật, Australia, Nam Hàn… ?
Cuộc chạy đua của cộng sản Trung Quốc sẽ đi tới đâu, có ảo tưởng tiến tới một siêu cường quốc không và để làm gì, vì ai?
Steven Mosher
--------------------------------------------------------------------------------
Nhật báo Ba Lan: Hiện nay có sự so sánh phổ biến tình hình địa chính trị tại châu Á với thời kỳ ngự trị ở châu Âu trước năm 1914. Trung Quốc đang nắm vai trò của nước Đức, vừa xuất phát từ việc không hài lòng với trật tự thế giới, vừa muốn tìm cho mình một vị thế tốt hơn. Ông nghĩ sao?
Steven Mosher: Trung Quốc không phải là nước Đức tiếp nối. Nước Đức bấy giờ là tiềm lực của mức trung bình. Còn Trung Quốc là quốc gia khổng lồ, lớn tương tự Hoa Kỳ, với 1 tỷ 200 triệu dân. Không đơn giản là một tay chơi tiếp theo, mới xuất hiện trên sân khấu. Đây là một tiềm lực lớn nhất của lịch sử loài người. Sự so sánh kể trên chỉ đúng trong một mức độ nào đó. Đức quốc đã gây ra chiến tranh ở châu Âu và tham vọng của nó tập trung ở lục địa này. Trong khi đó của Trung Quốc mang tính toàn cầu. Cho nên vấn đề nghiêm trọng hơn điều mà châu Âu trải qua 100 trước đây.
Nhật báo Ba Lan: Nhà bảo thủ mới (neoconservative) Robert Kagan trong cuốn sách “Paradise and Power” viết rằng, đối với các nhà chính trị Hoa Kỳ thì trước ngày 11/09 vấn đề không phải là câu hỏi chúng ta có xung đột với Trung Quốc hay không, mà là bao giờ. Từ lúc bấy giờ đến nay có gì thay đổi không?
Steven Mosher: Cuộc chiến chống khủng bố đau thương nhưng trong thực tế không thật hẳn quan trọng. Quân khủng bố không có khả năng làm đảo lộn trật tự thế giới. Tham vọng từ phía Trung Quốc nghiêm trọng và huỷ diệt trật tự thế giới. Chúng ta bắt tay với Trung Quốc khi và chỉ khi Trung Quốc tôn trọng nhân quyền và trở thành nhà nước dân chủ. Chúng ta sẽ giữ trật tự hiện có trên thế giới, trật tự hoà bình của các quốc gia dân chủ.
Nếu như Trung Quốc là nhà nước độc đảng, độc tài thì không thể nào trở thành một phần của trật tự hiện nay mà lại không có những thay đổi nền tảng. Trung Quốc đang giành ưu thế trước các quốc gia không lớn trong khu vực, khuyến khích các chế độ độc tài. Các nền dân chủ nhỏ châu Á bị làm suy yếu bởi chính phủ Trung quốc. Trung Quốc không là bạn của dân chủ mà là kẻ thù của nó.
Nhật báo Ba Lan: Điểm chính yếu nào của sự đối kháng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc? Có lẽ không riêng vấn đề Đài Loan?
Steven Mosher: Không chỉ riêng như thế, sự can thiệp ngày nay của Trung Quốc tại Trung Đông rất rõ ràng. Nếu như chúng ta nhìn Iraq trước chiến tranh, hay Iran, Syria hôm nay, thì thấy ngay rằng, đồng minh gần gũi nhất bên kia đại dương của họ nằm ở Bắc Kinh. Trung Quốc hiện đang bán tên lửa cho Syria, công nghệ nguyên tử cho Iran. Nếu như Iran có bom nguyên tử, thì từ cùng một lý do mà Pakistan có – là nhờ Trung Quốc. Trung Quốc là một trong những nguyên nhân của sự hỗn loạn tại Trung Đông.
Tham vọng của Trung Quốc gây nên bất ổn định trật tự quốc tế. Thoạt nhìn bên ngoài thì có vẻ như Trung Quốc hợp tác, nhưng trong những khu vực khác nhau trên thế giới, Trung Quốc đưa đến hỗn loạn, đặc biệt là vùng Trung Đông.
Việc tiếp theo là vấn đề nhân quyền. Khi tôi nói đến Trung Quốc, người Trung Quốc là ý tôi chỉ nói về nhà cầm quyền mà thôi. Tại Trung Quốc có rất nhiều người tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, nhiều người bị tù đày tại những nơi mà họ bị tra tấn, thậm chí bị giết. Cách đây không lâu một chánh án Trung Quốc bị cảnh sát hành hạ. Khi gia đình nhìn thấy thì thân thể bị đánh đập kinh khủng. Được hỏi nạn nhân có bị tra tấn hay không, câu trả lời từ phía chính quyền là không và ông ta đột tử.
Các mối quan hệ thân mật - trước đây - với Saddam Hussein, Iran, Syria hay Bắc Hàn càng khuyến khích các chế độ này chống lại những giá trị dân chủ. Tôi không muốn chỉ nói về các giá trị của riêng Hoa Kỳ, mà là về những giá trị chung cho cả Hoa Kỳ và châu Âu: tôn trọng quyền tư hữu, tôn trọng luật pháp và bầu cử tự do. Những điều này Trung Quốc không hề có dưới mọi hình thức.
Nhật báo Ba Lan: Trung Quốc không phải là duy nhất ở châu Á. Những quốc gia khác trong khu vực như Ấn Độ hay Nhật Bản nhìn nhận thế nào về sự tăng tiềm lực của Trung Quốc? Hàn Quốc có chính sách như thế nào với Bắc Kinh? Việc thống nhất bán đảo Triều Tiên không phụ thuộc vào Bắc Kinh?
Steven Mosher: Nếu như không có Bắc Kinh thì Bắc Hàn đã sụp đổ từ lâu, còn bán đảo Triều Tiên đã được thống nhất và dân chủ. Chế độ Kim Jong Il tồn tại hoàn toàn từ giúp đỡ của Bắc Kinh. Nam Hàn giữ quan hệ với Trung Quốc cũng giống như các nước láng giềng khác, cố gắng không va chạm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong thâm tâm tất cả đều quan ngại tiềm lực tăng lên của Trung Quốc.
Điều này cũng với cả Nhật Bản. Nhật Bản hiện nay đang làm việc nỗ lực với Hoa Kỳ về chiến lược xây dựng hệ thống lá chắn chống tên lửa. Tại sao? Bởi vì người ta lo ngại số tên lửa tầm xa và trung bình của Trung Quốc tăng lên. Về mặt chính thức họ nói rằng đây là biện pháp ngăn ngừa Bắc Hàn. Nhưng Bắc Hàn thì hiện mới chỉ có vài cái. Thực tế là người Nhật muốn phòng vệ trước sự xâm lăng của Bắc Kinh. Nhật Bản hợp tác với Hoa Kỳ và cũng cam kết bảo vệ Đài Loan, bởi vì, sự thất thủ của Đài Loan đe doạ chính Nhật Bản.
Ấn Độ cũng không yên tâm chút nào trước sự gia tăng tiềm lực của Trung Quốc. Cần nhớ lại rằng, Ấn Độ đã có cuộc chiến tranh biên giới với Bắc Kinh 1960-1961, còn Trung Quốc đang chiếm đóng hàng chục ngàn cây số vuông lãnh thổ Ấn Độ. Người Ấn cảm thấy đang bị đặt mặt đối mặt trước những đồng minh Trung Quốc: Pakistan và Myanmar (những nơi Trung Quốc có các cơ sở hải quân lớn).
Sẽ không một ai bất an trước tiềm lực kinh tế mạnh đang tăng lên của Trung Quốc, nếu như Trung Quốc là một quốc gia dân chủ. Vấn đề lại nằm ở chỗ Trung Quốc không phải dân chủ mà là độc tài, trong khi những chế độ độc tài luôn có khuynh hướng tiến hành chiến tranh.
Nhật báo Ba Lan: Nhà chính trị-xã hội cấp tiến Pháp Guy Sorman (2) trong cuốn sách “Năm Con Gà” nói về Trung Quốc, đưa ra một luận đề rằng, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc là ảo. Theo Guy Sorman, những con số thống kê đưa ra bởi đảng cộng sản không đáng tin cậy.
Steven Mosher: Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không ảo. Thế nhưng rất mất cân đối. Cho nên đây không phải là sự tăng trưởng kinh tế bình thường, lành mạnh. Sự tăng tưởng tập trung chủ yếu ở hai khu vực. Thứ nhất, dựa trên xuất khẩu - tất cả chúng ta đều biết rằng, Trung Quốc là trung tâm sản xuất cho phần lớn các nước thế giới, kể cả Hoa Kỳ. Khu vực thứ nhì là mua hoặc ăn cắp các công nghệ để ứng dụng vào mục đích dân sự cũng như quân sự. Ở đây không nói đến vấn đề mua vũ khí của Nga mà là nói về sự phát triển sản xuất vũ khí tại ngay Trung Quốc. Lợi nhuận thu được từ xuất cảng chảy vào lĩnh vực quân sự và dùng để trợ cấp cho các công ty quốc doanh bị bội chi. Kinh tế khu vực quốc doanh đi xuống, trong khi xuất khẩu và khu vực quân sự phát triển.
Tại sao Trung Quốc không thực hiện phát triển nền kinh tế bền vững? Tại sao họ không tái cấu trúc các công ty quốc doanh đang trên đà phá sản? Tại sao Trung Quốc chi phí nhiều như thế cho quân sự và ngân sách quốc phòng tăng đều đặn? Nếu như Trung Quốc có thiên hướng nhắm tới hoà bình, thì lợi nhuận từ xuất khẩu sẽ được dành cho việc nâng cao mức sống của nhân dân. Nhưng điều này không xảy ra.
Nhật báo Ba Lan: Ông đánh giá sự hiểu biết về Trung Quốc tại phương Tây như thế nào?
Steven Mosher: Đây là vấn đề rất nghiêm trọng. Các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ, ví dụ như General Motors hay Boeing đã đầu tư nhiều tỷ đô la vào Trung Quốc vì cho rằng đây là thị trường của tương lai. Với cách này, các hãng trở thành con tin của chính quyền Trung Quốc và Trung Quốc tin rằng, các hãng này sẽ hỗ trợ Trung Quốc tại Hoa Kỳ. Cho nên, một khi Pentagon chỉ trích Bắc Kinh hay CIA khuyến cáo sự xâm nhập gia tăng của các điệp viên Trung Quốc tại Hoa Kỳ, các hãng lớn của Hoa Kỳ lại nói: Trung Quốc đang thay đổi, Trung Quốc đang phát triển kinh tế và không lâu sẽ trở thành quốc gia dân chủ. Chúng ta đừng lo ngại gì về Trung Quốc – sự biện minh của họ như vậy. Cũng như trên các giảng đường đại học: vô số các chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc bị mua đứt. Họ là những nhà tham vấn về các vấn đề Trung Quốc, làm việc tại Trung Quốc theo lời mời của nhà nước Trung Quốc, do nhà nước tổ chức và được đãi ngộ những chuyến đi đặc biệt.
Ngoài ra, người Trung Quốc dễ mến. Những chuyên viên Hoa Kỳ về các vấn đề Liên Xô không thích chủ nghĩa cộng sản, còn rất nhiều chuyên gia Hoa Kỳ chỉ đơn giản là yêu thích đất nước này. Họ không tách biệt rõ ràng cảm tính của mình giữa văn hoá, lịch sử và sự đánh giá về chính sách của chính quyền Trung Quốc. Vô số các nhà quan sát Hoa Kỳ thực sự đang phục vụ cho quyền lợi của Trung Quốc chứ không phải của Hoa Kỳ.
© DCVOnline
--------------------------------------------------------------------------------
Chú thích:
- (1): Gazeta Wyborcza (GW) là nhật báo hàng đầu tại Ba Lan, xu hướng cấp tiến, phát hành toàn quốc với khoảng 400.000 ấn bản/ngày. Steven Mosher là nhà xã hội – chính trị học Hoa Kỳ, chuyên viên về lịch sử và chính sách Trung Quốc. Bài phỏng vấn được đăng trên GW ngày 20/07/2007.
- (2): Tham khảo về kinh tế Trung Quốc, xem: Cái nhìn huyền hoặc về Trung Quốc của Guy Sorman trên DCVOnline, của cùng người dịch.
Lê Diễn Đức - Nhật báo GW phỏng vấn Steven Mosher
Người dịch: Về tham vọng bá quyền của Trung Quốc không có gì lạ, nhất là đối với những nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Steven Mosher, một chuyên gia danh tiếng của Hoa Kỳ chuyên nghiên cứu về Trung Quốc sẽ cho chúng ta thêm những nhận định xác thực và bối cảnh toàn cầu hiện nay qua phỏng vấn của nhật báo Ba Lan “Gazeta Wyborcza” (GW). (1)
Tham vọng của Trung Nam Hải rất lớn và Bắc Kinh không từ bỏ một âm mưu nào để tiến tới mục đích giành vị thế cường quốc cao nhất trên thế giới. Nhưng liệu Hoa Kỳ và các nước đồng minh có để yên cho Trung Quốc tự tung tự tác? Nếu không phải là cuộc chiến nguyên tử xảy ra và cả hai bên đều huỷ diệt lẫn nhau, thì, với vũ khí hiện đại thông thường, khi nào Trung Quốc mới có đủ tiềm lực đối đầu trực tiếp với Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO)? Cần chú ý rằng, công nghệ sản xuất vũ khí và trang thiết bị quân sự của Trung Quốc so với Hoa Kỳ hiện tại còn một khoảng cách khá dài.
Các nước láng giềng của Trung Quốc chắc chắn cũng không khoanh tay, thụ động chờ đợi.
Nhật Bản đang bỏ hàng tỷ đô la cùng Hoa Kỳ lập kế hoạch xây dựng hệ thống lá chắn tên lửa. Australia đã ký hiệp ước liên minh quân sự với Nhật cách đây vài tháng. Theo tin PAP ngày 30/07/2007, Hoa Kỳ và Ấn Độ đã thoả thuận xong các chi tiết cụ thể của hiệp định hợp tác về năng lượng hạt nhân hoà bình và quốc hội Hoa Kỳ sẽ phê chuẩn nay mai…
Trừ đảng cộng sản Việt Nam chỉ vì quyền lợi ích kỷ của đảng mà ngậm miệng ăn tiền, cúi đầu chịu nhục trước những khiêu khích thô bạo và âm mưu bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh, chà đạp lên danh dự và tinh thần chống ngoại xâm bất khuất ngàn đời của dân tộc Việt.
Có khoảng 70% (tức gần 800 triệu người) sống ở nông thôn nghèo khó, thu nhập dưới 1 USD/ngày, chịu hậu quả ô nhiễm môi sinh nặng nề, thiên tai tàn phá liên tục, thiếu nguồn nước sạch cho sinh hoạt, không bảo hiểm y tế, v.v… Thay vì lấy lợi ích từ phát triển kinh tế để nâng cao đời sống cho người lao động, Trung Nam Hải đổ tiền vào cuộc chạy đua vũ trang, không chỉ riêng với Hoa Kỳ mà còn thách thức với cả cộng đồng các quốc gia dân chủ mà trong đó có nhiều nước giàu có và hùng mạnh khác như Pháp, Đức, Italy, Anh, Canada, Nhật, Australia, Nam Hàn… ?
Cuộc chạy đua của cộng sản Trung Quốc sẽ đi tới đâu, có ảo tưởng tiến tới một siêu cường quốc không và để làm gì, vì ai?
Steven Mosher
--------------------------------------------------------------------------------
Nhật báo Ba Lan: Hiện nay có sự so sánh phổ biến tình hình địa chính trị tại châu Á với thời kỳ ngự trị ở châu Âu trước năm 1914. Trung Quốc đang nắm vai trò của nước Đức, vừa xuất phát từ việc không hài lòng với trật tự thế giới, vừa muốn tìm cho mình một vị thế tốt hơn. Ông nghĩ sao?
Steven Mosher: Trung Quốc không phải là nước Đức tiếp nối. Nước Đức bấy giờ là tiềm lực của mức trung bình. Còn Trung Quốc là quốc gia khổng lồ, lớn tương tự Hoa Kỳ, với 1 tỷ 200 triệu dân. Không đơn giản là một tay chơi tiếp theo, mới xuất hiện trên sân khấu. Đây là một tiềm lực lớn nhất của lịch sử loài người. Sự so sánh kể trên chỉ đúng trong một mức độ nào đó. Đức quốc đã gây ra chiến tranh ở châu Âu và tham vọng của nó tập trung ở lục địa này. Trong khi đó của Trung Quốc mang tính toàn cầu. Cho nên vấn đề nghiêm trọng hơn điều mà châu Âu trải qua 100 trước đây.
Nhật báo Ba Lan: Nhà bảo thủ mới (neoconservative) Robert Kagan trong cuốn sách “Paradise and Power” viết rằng, đối với các nhà chính trị Hoa Kỳ thì trước ngày 11/09 vấn đề không phải là câu hỏi chúng ta có xung đột với Trung Quốc hay không, mà là bao giờ. Từ lúc bấy giờ đến nay có gì thay đổi không?
Steven Mosher: Cuộc chiến chống khủng bố đau thương nhưng trong thực tế không thật hẳn quan trọng. Quân khủng bố không có khả năng làm đảo lộn trật tự thế giới. Tham vọng từ phía Trung Quốc nghiêm trọng và huỷ diệt trật tự thế giới. Chúng ta bắt tay với Trung Quốc khi và chỉ khi Trung Quốc tôn trọng nhân quyền và trở thành nhà nước dân chủ. Chúng ta sẽ giữ trật tự hiện có trên thế giới, trật tự hoà bình của các quốc gia dân chủ.
Nếu như Trung Quốc là nhà nước độc đảng, độc tài thì không thể nào trở thành một phần của trật tự hiện nay mà lại không có những thay đổi nền tảng. Trung Quốc đang giành ưu thế trước các quốc gia không lớn trong khu vực, khuyến khích các chế độ độc tài. Các nền dân chủ nhỏ châu Á bị làm suy yếu bởi chính phủ Trung quốc. Trung Quốc không là bạn của dân chủ mà là kẻ thù của nó.
Nhật báo Ba Lan: Điểm chính yếu nào của sự đối kháng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc? Có lẽ không riêng vấn đề Đài Loan?
Steven Mosher: Không chỉ riêng như thế, sự can thiệp ngày nay của Trung Quốc tại Trung Đông rất rõ ràng. Nếu như chúng ta nhìn Iraq trước chiến tranh, hay Iran, Syria hôm nay, thì thấy ngay rằng, đồng minh gần gũi nhất bên kia đại dương của họ nằm ở Bắc Kinh. Trung Quốc hiện đang bán tên lửa cho Syria, công nghệ nguyên tử cho Iran. Nếu như Iran có bom nguyên tử, thì từ cùng một lý do mà Pakistan có – là nhờ Trung Quốc. Trung Quốc là một trong những nguyên nhân của sự hỗn loạn tại Trung Đông.
Tham vọng của Trung Quốc gây nên bất ổn định trật tự quốc tế. Thoạt nhìn bên ngoài thì có vẻ như Trung Quốc hợp tác, nhưng trong những khu vực khác nhau trên thế giới, Trung Quốc đưa đến hỗn loạn, đặc biệt là vùng Trung Đông.
Việc tiếp theo là vấn đề nhân quyền. Khi tôi nói đến Trung Quốc, người Trung Quốc là ý tôi chỉ nói về nhà cầm quyền mà thôi. Tại Trung Quốc có rất nhiều người tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, nhiều người bị tù đày tại những nơi mà họ bị tra tấn, thậm chí bị giết. Cách đây không lâu một chánh án Trung Quốc bị cảnh sát hành hạ. Khi gia đình nhìn thấy thì thân thể bị đánh đập kinh khủng. Được hỏi nạn nhân có bị tra tấn hay không, câu trả lời từ phía chính quyền là không và ông ta đột tử.
Các mối quan hệ thân mật - trước đây - với Saddam Hussein, Iran, Syria hay Bắc Hàn càng khuyến khích các chế độ này chống lại những giá trị dân chủ. Tôi không muốn chỉ nói về các giá trị của riêng Hoa Kỳ, mà là về những giá trị chung cho cả Hoa Kỳ và châu Âu: tôn trọng quyền tư hữu, tôn trọng luật pháp và bầu cử tự do. Những điều này Trung Quốc không hề có dưới mọi hình thức.
Nhật báo Ba Lan: Trung Quốc không phải là duy nhất ở châu Á. Những quốc gia khác trong khu vực như Ấn Độ hay Nhật Bản nhìn nhận thế nào về sự tăng tiềm lực của Trung Quốc? Hàn Quốc có chính sách như thế nào với Bắc Kinh? Việc thống nhất bán đảo Triều Tiên không phụ thuộc vào Bắc Kinh?
Steven Mosher: Nếu như không có Bắc Kinh thì Bắc Hàn đã sụp đổ từ lâu, còn bán đảo Triều Tiên đã được thống nhất và dân chủ. Chế độ Kim Jong Il tồn tại hoàn toàn từ giúp đỡ của Bắc Kinh. Nam Hàn giữ quan hệ với Trung Quốc cũng giống như các nước láng giềng khác, cố gắng không va chạm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong thâm tâm tất cả đều quan ngại tiềm lực tăng lên của Trung Quốc.
Điều này cũng với cả Nhật Bản. Nhật Bản hiện nay đang làm việc nỗ lực với Hoa Kỳ về chiến lược xây dựng hệ thống lá chắn chống tên lửa. Tại sao? Bởi vì người ta lo ngại số tên lửa tầm xa và trung bình của Trung Quốc tăng lên. Về mặt chính thức họ nói rằng đây là biện pháp ngăn ngừa Bắc Hàn. Nhưng Bắc Hàn thì hiện mới chỉ có vài cái. Thực tế là người Nhật muốn phòng vệ trước sự xâm lăng của Bắc Kinh. Nhật Bản hợp tác với Hoa Kỳ và cũng cam kết bảo vệ Đài Loan, bởi vì, sự thất thủ của Đài Loan đe doạ chính Nhật Bản.
Ấn Độ cũng không yên tâm chút nào trước sự gia tăng tiềm lực của Trung Quốc. Cần nhớ lại rằng, Ấn Độ đã có cuộc chiến tranh biên giới với Bắc Kinh 1960-1961, còn Trung Quốc đang chiếm đóng hàng chục ngàn cây số vuông lãnh thổ Ấn Độ. Người Ấn cảm thấy đang bị đặt mặt đối mặt trước những đồng minh Trung Quốc: Pakistan và Myanmar (những nơi Trung Quốc có các cơ sở hải quân lớn).
Sẽ không một ai bất an trước tiềm lực kinh tế mạnh đang tăng lên của Trung Quốc, nếu như Trung Quốc là một quốc gia dân chủ. Vấn đề lại nằm ở chỗ Trung Quốc không phải dân chủ mà là độc tài, trong khi những chế độ độc tài luôn có khuynh hướng tiến hành chiến tranh.
Nhật báo Ba Lan: Nhà chính trị-xã hội cấp tiến Pháp Guy Sorman (2) trong cuốn sách “Năm Con Gà” nói về Trung Quốc, đưa ra một luận đề rằng, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc là ảo. Theo Guy Sorman, những con số thống kê đưa ra bởi đảng cộng sản không đáng tin cậy.
Steven Mosher: Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc không ảo. Thế nhưng rất mất cân đối. Cho nên đây không phải là sự tăng trưởng kinh tế bình thường, lành mạnh. Sự tăng tưởng tập trung chủ yếu ở hai khu vực. Thứ nhất, dựa trên xuất khẩu - tất cả chúng ta đều biết rằng, Trung Quốc là trung tâm sản xuất cho phần lớn các nước thế giới, kể cả Hoa Kỳ. Khu vực thứ nhì là mua hoặc ăn cắp các công nghệ để ứng dụng vào mục đích dân sự cũng như quân sự. Ở đây không nói đến vấn đề mua vũ khí của Nga mà là nói về sự phát triển sản xuất vũ khí tại ngay Trung Quốc. Lợi nhuận thu được từ xuất cảng chảy vào lĩnh vực quân sự và dùng để trợ cấp cho các công ty quốc doanh bị bội chi. Kinh tế khu vực quốc doanh đi xuống, trong khi xuất khẩu và khu vực quân sự phát triển.
Tại sao Trung Quốc không thực hiện phát triển nền kinh tế bền vững? Tại sao họ không tái cấu trúc các công ty quốc doanh đang trên đà phá sản? Tại sao Trung Quốc chi phí nhiều như thế cho quân sự và ngân sách quốc phòng tăng đều đặn? Nếu như Trung Quốc có thiên hướng nhắm tới hoà bình, thì lợi nhuận từ xuất khẩu sẽ được dành cho việc nâng cao mức sống của nhân dân. Nhưng điều này không xảy ra.
Nhật báo Ba Lan: Ông đánh giá sự hiểu biết về Trung Quốc tại phương Tây như thế nào?
Steven Mosher: Đây là vấn đề rất nghiêm trọng. Các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ, ví dụ như General Motors hay Boeing đã đầu tư nhiều tỷ đô la vào Trung Quốc vì cho rằng đây là thị trường của tương lai. Với cách này, các hãng trở thành con tin của chính quyền Trung Quốc và Trung Quốc tin rằng, các hãng này sẽ hỗ trợ Trung Quốc tại Hoa Kỳ. Cho nên, một khi Pentagon chỉ trích Bắc Kinh hay CIA khuyến cáo sự xâm nhập gia tăng của các điệp viên Trung Quốc tại Hoa Kỳ, các hãng lớn của Hoa Kỳ lại nói: Trung Quốc đang thay đổi, Trung Quốc đang phát triển kinh tế và không lâu sẽ trở thành quốc gia dân chủ. Chúng ta đừng lo ngại gì về Trung Quốc – sự biện minh của họ như vậy. Cũng như trên các giảng đường đại học: vô số các chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc bị mua đứt. Họ là những nhà tham vấn về các vấn đề Trung Quốc, làm việc tại Trung Quốc theo lời mời của nhà nước Trung Quốc, do nhà nước tổ chức và được đãi ngộ những chuyến đi đặc biệt.
Ngoài ra, người Trung Quốc dễ mến. Những chuyên viên Hoa Kỳ về các vấn đề Liên Xô không thích chủ nghĩa cộng sản, còn rất nhiều chuyên gia Hoa Kỳ chỉ đơn giản là yêu thích đất nước này. Họ không tách biệt rõ ràng cảm tính của mình giữa văn hoá, lịch sử và sự đánh giá về chính sách của chính quyền Trung Quốc. Vô số các nhà quan sát Hoa Kỳ thực sự đang phục vụ cho quyền lợi của Trung Quốc chứ không phải của Hoa Kỳ.
© DCVOnline
--------------------------------------------------------------------------------
Chú thích:
- (1): Gazeta Wyborcza (GW) là nhật báo hàng đầu tại Ba Lan, xu hướng cấp tiến, phát hành toàn quốc với khoảng 400.000 ấn bản/ngày. Steven Mosher là nhà xã hội – chính trị học Hoa Kỳ, chuyên viên về lịch sử và chính sách Trung Quốc. Bài phỏng vấn được đăng trên GW ngày 20/07/2007.
- (2): Tham khảo về kinh tế Trung Quốc, xem: Cái nhìn huyền hoặc về Trung Quốc của Guy Sorman trên DCVOnline, của cùng người dịch.
samedi 28 juillet 2007
BUỔI HỌP CUỐI CÙNG QUỐC HỘI LƯỠNG VIỆN VNCH
BUỔI HỌP CUỐI CÙNG QUỐC HỘI LƯỠNG VIỆN VNCH
Trần Đính Ngọc
... Sau khi Dân Biểu Cộng Sản nằm vùng Lý quý Chung, một đệ tử thân tín và trung thành của tướng Dương văn Minh, vào buổi họp chót của Quốc Hội Lưỡng Viện VNCH, tức là vài ngày sau cùng của Miền Nam VN thân yêu còn trong tay người Quốc gia, Lý quý Chung, với định kiến và đã bàn với Dương văn Minh, Vũ văn Mẫu cũng như chịu lệnh của Thích Trí Quang, y đã “tả xông hữu đột”, hết sức thuyết phục Quốc hội Lưỡng viện VNCH trao quyền Tổng Thống cho Dương văn Minh, càng sớm càng tốt.
Lý quý Chung đã viện dẫn nhiều lí do, đưa ra những lời cam kết long trọng rằng chỉ có Đại tướng Dương văn Minh mới cứu vãn được tình thế đã quá suy sụp này. Y tha thiết xin Quốc Hội sớm trao quyền TT cho Đại tướng Dương văn Minh kẻo nguy ngập lắm rồi. Hơn nữa, trong cuộc trao đổi ở giữa cuộc họp chính, bởi vì không khí căng thẳng quá, các Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ Viện, các trưởng Khối của Quốc Hội được hội ý với các Đại sứ như Pháp, Mỹ, Canada v.v... theo đó Cộng hòa miền Nam VN được bắn tin rằng Hà Nội có thể nói chuyện với Chính Phủ Dương văn Minh (một ngón đòn của Hà Nội, ghi chú của người viết) và còn đưa ra kì hạn là 12 giờ đêm nay nếu Hà Nội không nhận được tin QH/VNCH trao quyền cho Dương văn Minh thì chúng sẽ gủi vào 10,000 đạn pháo 122 ly cho dân Sàigòn. Vì thế đêm đó, 27-4-1975, lúc hơn 10giờ, Quốc Hội đã bỏ phiếu thỏa thuận Đề luật đó bởi chẳng còn con đường nào khác.
Tôi đã dự một phiên họp Quốc Hội vô cùng gay cấn, căng thẳng thần kinh, bàng hoàng nghĩ rằng miền Nam đã đến ngày tận số, còn ai có cây đũa thần biến đổi tình hình miền Nam này được và tôi ngồi đây, cũng chỉ là để chứng kiến một cuộc bức tử thảm thiết (trong đó tôi cũng là một thành phần); cái thòng lọng đã treo lơ lửng trên đầu tội nhân “vô tội”, ngực gắn mảnh giấy ghi 4 chữ đỏ trên nền vàng: “Việt Nam Cộng Hòa” sau 21 năm kiên cường chống Cộng sản, bọn người với dã tâm xích hóa toàn vùng Đông Nam Á.
Ông TT Nguyễn văn Thiệu đã xin rút khỏi chức vị TT để trở về với Quân Đội đặng có thêm “một tay súng”(!) cho Quân Đội, trao quyền cho cụ Trần văn Hương.
Cụ Trần văn Hương già yếu, vốn xưa nay chỉ là nhà giáo, nhờ cụ dạy và làm gương về đạo đức và thanh liêm hoặc hành chánh thì được nhưng nhờ cụ đánh đông dẹp bắc, an định tình thế, chỉ huy tướng lãnh trong lúc hỗn loạn như thế này thì quả là “đưa người yếu đi đánh vật và chỉ trao quyền lấy được”. Cụ không muốn nhận là phải bởi cụ có biết gì về quân sự!
Và đến bây giờ là Dương văn Minh!
Tôi nhớ bữa đó có một số DB, NS vắng mặt, vắng mặt nhiều nhất trong những phiên họp QH Lưỡng viện từ ngày tôi vào Quốc Hội. Tôi thông cảm, ai cũng tìm đường sống nhưng còn nhiệm vụ nặng nề thì bỏ cho ai đây? Chẳng lẽ chỉ làm DB, NS những lúc thanh bình, được ăn trên ngồi trốc, sung sướng bản thân và gia đình còn lúc quốc biến thì nhanh chân chuồn, trước tất cả mọi người? Lương tân kẻ sĩ không cho phép ta làm điều đó!
Bởi thế sau này, cuối năm 1985, khi cả gia đình tôi được đoàn tụ ở Hoa Kỳ, sau khi đã mất hết tài sản một đời làm việc, dành dụm vì cho con vượt biển, băng rừng, nhà tôi cứ trách tôi rằng chính vì tôi bỏ mấy chiếc tầu đánh cá ở Bến Đá Vũng Tàu về họp QH Lưỡng viện bữa đó mà suýt nữa cả gia đình tiêu tan và suýt nữa tôi đi tù cải tạo không có ngày về, có khi đã chết.
Tôi nhớ, đang cuộc họp này, cuộc họp QH Lưỡng Viện ngày 27-4-1975, một Cảnh lại trình lên bà Nguyễn thị Hai, Đệ nhị Phó chủ tịch HNV, lúc đó bà đang ngồi trên bàn Chủ tọa, báo rằng bà có một cú điện thoại cần. Sau khi nghe ĐT, bà Hai bỏ đi một nước không trở lại họp nữa. Sau này được biết rằng, máy bay đang đợi bà trong Tân Sơn Nhất, họp chẳng họp thì đừng!
Chiến lược bỏ miền Trung của TT Nguyễn văn Thiệu sai lầm ngay từ đầu nên ngày nay tướng Ngô quang Trưởng, Tư lệnh Vùng I Chiến thuật còn phàn nàn, một cuộc rút lui vô tổ chức khiến hại người, hại của và cũng vì chạy vô trật tự như thế, Cộng quân đã được đà đánh đuổi quân dân ta. Người dân chạy tán loạn trên đường, leo lên xà lan, lên tầu, Cộng quân pháo theo chết như rạ thây rớt xuống biển, xuống sông, thây nằm đầy đường, máu me cùng khắp, thực chưa có một chiến trận nào thảm khốc bằng.
Từ cuộc tháo chạy ở miền Trung ấy, quân, dân miền Nam đã mất nhuệ khí, điều rất cần trong khi đánh giặc, nhiều đơn vị chạy vào đến Sàigòn thì quân số đã hao hụt, tán lạc quá nửa, không còn tập trung lại được mà cũng chẳng có ai đứng ra làm việc ấy. Qua ngày 28, tướng tá đã đi khá nhiều; Thiệu, Khiêm, Kỳ, Cao văn Viên, Thủ tướng Nguyễn bá Cẩn v.v...có lẽ đang ung dung ở ngoại quốc bởi những anh này dư phương tiện. Chỉ dân đen với chức quyền không phương tiện là khốn khổ!
Dù có biết sách lược triệt thoái miền Trung là sai, tất cả đã quá trễ. Người ta bảo TT Nguyễn văn Thiệu tính “tháu cáy” Mỹ, để Mỹ sớm gửi quân viện cho miền Nam (vì không quân viện là phải chết) nhưng Mỹ đã có chương trình riêng của Mỹ, Mỹ “don’t care”. Ông Thiệu có nói một câu đáng cho ta suy nghĩ: “Làm kẻ thù của Mỹ dễ hơn là làm đồng minh với Mỹ”.(Liệu ngày nay, Mỹ có thể dùng Việt cộng như cái lá chắn Trung cộng được không?)
Thực vậy, điều vô cùng quan trọng và là chìa khóa của ván bài: Chính phủ Mỹ, do tiến sĩ giấy Henry Kissinger thao tác, đã đi đêm với Nga-Tàu, mặc cả, đổi chác, quyết lòng dâng miền Nam cho CS quốc tế (mà Việt gian CS chỉ là tay sai, được CS quốc tế cho phép quản lí) để đổi lấy một cái gì đó chỉ họ biết với nhau; thí dụ để đổi lấy an toàn cho Đài loan, hay dồn tiềm lực lo cho Do Thái (nước mẹ của Kissinger) đang bị nhiều áp lực từ khối Hồi giáo ở Trung đông v.v... (Đã đến nước đó thì VNCH mạnh mấy cũng phải qui hàng. Tương tự, nếu Việt gian CS cũng bị quốc tế CS hi sinh để đổi chác với Hoa Kỳ thì Hà Nội sẽ có rừng cờ vàng ba sọc đỏ ngay. Bởi thế, những anh cán ngố chớ nên kiêu căng, tự phụ!)
Kể từ sau khi QH bỏ phiếu “Thuận”, trao quyền TT cho Dương văn Minh đêm đó, Bộ Tham Mưu của Dương văn Minh rất hồ hởi phấn khởi, anh nào cũng đinh ninh là mình sẽ có một ghế Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng; tép riu cũng Tổng Giám đốc, Giám đốc...những anh tự nhận thành phần thứ ba, ở trong nước và từ Pháp, từ Mỹ về cũng hi vọng tràn trề; còn Vũ văn Mẫu, con đẻ của Ấn Quang, một tên Việt gian xuẩn động ăn cơm QG thờ ma CS thì nắm chắc cái ghế Thủ tướng. Những anh há họng chờ sung này nghĩ rằng cuộc đời sẽ đẹp như mơ!
Nhưng ở đời, thấy vậy mà không phải vậy!
TỰ DO HAY LÀ CHẾT
Buổi họp Quốc hội Lưỡng viện hôm đó, với cá nhân tôi, cũng là buổi họp Quốc Hội cuối cùng trong 4 năm Dân Biểu Hạ Nghị Viện (1971-1975) vì như đã trình bày, tôi biết chắc chắn Sàigòn sẽ mất đến nơi, tự nhủ lòng bằng bất cứ giá nào, tôi phải tìm đường ra ngoại quốc dù có để lại tài sản hàng nghìn tỉ đô-la (tôi không có, nhưng giả sử có) cũng không hề tiếc xót. Khi tôi mới hơn chục tuổi đầu, bố tôi đã căn dặn tôi không được đi theo, sống với Vẹm vì Hồ là một tay Việt gian hung ác cực kì, không thể tin được. Bố tôi đã gia nhập VNQDĐ, đã du học Tàu và Nhật thới Đông kinh Nghĩa thục của các cụ Phan bội Châu và Phan chu Trinh, và chắc chắn là bố tôi đã quá rõ về ông Hồ chí Minh. Bố tôi đã bị Pháp và Việt Minh bắt giam nhiều lần rồi thả.
Vì thế, với tôi, tâm tâm niệm niệm lời bố tôi nói, sống nghèo, thanh đạm, đủ ăn cũng được nhưng có tự do bởi tự do quí như sinh mạng con người. Sống mà không có tự do, thà chết sướng hơn như nhà tư tưởng Hoa Kỳ, Franklin, đã nói:”Give me Liberty or give me death” (Cho tôi tự do hay là giết tôi đi). Giầu có, tiền nhiều thóc dư mà sống trong nhà tù (dù lớn là cả nước như VN hiện nay, hay nhỏ là trại giam) thì cuộc sống cũng vô nghĩa.
Tân đệ nhất phu nhân Pháp, bà Cecilia Sarkozy, nói với báo chí khi TT Nicolas Sarkozy mới đắc cử tháng 6-2007, là bà không thích hợp với vai trò đệ nhất phu nhân (tù túng) ở điện Elysée mà bà thích mặc chiếc quần jean, cái áo thung đi bát phố, muốn tấp vào đâu coi, ăn quà, xem ciné cũng được, không ai nhòm ngó, không ai phiền hà. Đó chính là tự do.
Còn công nương Diana, hoàng gia Anh, lúc sinh thời cũng cùng một ý nghĩ y như Cecilia Sarkozy. Ấy là hai phụ nữ trẻ này đang sống trong hoàng cung, sung sướng bậc nhất, muốn gì được nấy mà vì nghi lễ bó buộc của phủ tổng thống, của hoàng tộc, hai bà đã phải thốt ra như thế. Đủ biết tự do quan trọng cho đời sống như thế nào!
LM Nguyễn văn Lý, người anh hùng của dân tộc VN đã tuyên bố ở giáo xứ Nguyệt Biều trước khi bị công an CS bắt:
“Tự Do tôn giáo hay là chết”
Sau này, LM Nguyễn văn Lý không chỉ tranh đấu cho Tự do tôn giáo mà cho các quyền tự do của đồng bào VN: Tự do ngôn luận, tự do ra báo, tự do hội họp, lập đảng chính trị, tự do ứng cử, bầu cử, tự do đi lại v.v...Những quyền tự do ấy không một công dân nào không cần và theo Công pháp quốc tế, không một quyền lực nào có thể xâm phạm hay triệt tiêu chúng khỏi con người.
Hồ tặc và bọn thủ hạ Việt gian chưa hề bị mất tự do nên không biết nó khổ như thế nào nên chúng cứ ngang nhiên đày đọa, ngược đãi người dân, bỏ tù cùm kẹp người dân tàn ác hơn những kẻ độc ác đày đọa những con thú, chà đạp lên sự đau thương thống khổ của đồng bào.
Lí do tôi có tầu vượt biển cho cả gia đình thật giản dị. Tôi quen vợ chồng anh chị Nguyễn văn T. làm nghề ngư phủ ở Bến Đá, Vũng Tàu, những người ít học nhưng chân chất thật thà, CG ngoan đạo. Tôi biết anh T. từ khi ra Vũng Tàu (dăm năm trước 1975) để sinh hoạt với các cháu thiếu nhi trong một giáo xứ CG mà chị T. là đoàn trưởng thiếu nhi, còn tôi là hướng dẫn viên và bảo trợ viên. cho các cháu.
Nhiều lần, tôi và các thiếu nhi, có những anh, chị lớn, đốt lửa trại, ca hát, diễn kịch, học hỏi giáo lí và những điều hữu ích v.v...thật vui và bổ ích. Lần nào ra Vũng Tàu tôi cũng ngủ đêm tại nhà anh chị T., gặp lúc tầu đánh cá của anh chị từ biển về, tôm, cá, sò, ốc ê hề, tôi tổ chức cho các thiếu nhi cùng ăn bữa tối với nhau trước khi đốt lửa trại. Cả đoàn sinh hoạt rất vui vẻ và bổ ích.
PHẢI RA ĐI DÙ SỐNG HAY CHẾT
Đại gia đình anh chị T. (gồm cha mẹ, ông bà, anh, chị em, hiện nay đang ở Hoa Kỳ) có tất cả 5 chiếc tầu đánh cá, hai cái mới tinh, lớn, tốt có thể lênh đênh trên biển hàng vài tháng vẫn có đủ dầu để chạy và thức ăn, nước uống cho nhiều người. Ba cái kia nhỏ hơn nhưng vẫn ra khơi đánh cá cả tuần mới về, mỗi cái chở được cả trăm người.
Bữa đó, tôi có việc ra Vũng Tàu và nhân tiện ghé anh chị T. Tôi nói với anh T. tình hình quân sự với áp lực nặng nề của Cộng quân và lo rằng có thể phải di tản. Anh chị T. mời tôi và gia đình xuống tầu đi với anh chị nếu tình thế quá nguy hiểm. Anh nói đại gia đình có 5 chiếc tầu đánh cá, tôi muốn lên tầu nào cũng được, có thể đi tới Guam, Phi luật tân, Indonesia v.v.... Anh nói sang ngoại quốc, vì anh không biết tiếng Anh, anh nhờ tôi giúp anh chị vấn đề thông dịch, hoặc điền giấy tờ, kiếm việc làm v.v... Được anh chị đồng ý, sau đó tôi đã rủ thêm hai người bạn thiết của tôi, gia đình anh A và gia đình anh T. ở ông Tạ cùng xin đi tầu với anh chị T. Ba người chúng tôi đã đưa cho anh T. hơn 3 triệu đồng, dư dả để mua xăng, dầu thực phẩm và nước uống. Mọi việc sắp xếp xong vào đầu tháng 4-1975 chỉ còn chờ tình hình “biến chuyển mạnh” là ra khơi.
Giữa tháng 4-75, e con đường Vũng Tàu sẽ bị nghẽn vì chiến cuộc, tôi và hai anh bạn A và T đã đưa gia đình ra trú ngụ tại nhà anh T. để chờ ngày lên đường. Khoảng ngày 24 hay 25 gì đó, chúng tôi nghe được lời thông báo trên radio là mời các DB, NS về họp Quốc Hội Lưỡng viện, việc rất quan trọng.
Sau khi nghe nhiều lần nhắc đi nhắc lại, tôi tự nghĩ mình phải về làm nhiệm vụ của DB do cử tri đã trao phó cho mình. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng thế này, dân chúng tản lạc hết, chạy trốn hết mà mình cũng bỏ nhiệm sở thì thực thiếu sót. Sau khi suy nghĩ kĩ, tôi dăn gia đình cứ ở lại đó, khi nào gia đình anh chị T. xuống tầu ra khơi thì đi với gia đình anh chị ấy. Họ sống mình sống, họ chết mình chết. Còn phần tôi, tôi phải về Sàigòn họp Quốc hội, sau đó nếu có chuyện gì tôi cũng sẽ tìm đường đi, một mình tôi xoay xở vẫn dễ hơn là có cả gia đình vì các con đa số còn nhỏ.
Dân dò xong, tôi lái chiếc xe LaĐàlạt về Sàigòn. Nhưng khi tôi mới về đến nhà được vài giờ, đang liên lạc với văn phòng HNV thì nhà tôi đưa các cháu về. Hỏi tại sao về? Nhà tôi nói sợ ra ngoại quốc mà tôi bị kẹt lại thì biết xoay xở làm sao ở ngoại quốc. Chết một đống hơn sống một người. Thôi thế là hỏng hết! Tôi than thấm và chính vì thế mà gia đình tôi bị kẹt lại đến 6 năm sau cho những đứa con và gần 11 năm sau nhà tôi với cô con gái áp út mới được đoàn tụ với tôi ở Hoa Kỳ qua diện đoàn tụ.
Dầu sao, Ơn Trên vẫn còn phù hộ gia đình tôi. Của cải bị mất hết vì nhiều chuyến bị lừa vì vượt biển nhưng người thì qua khỏi hết, không bị chết trên biển hoặc trong rừng già biên giới Miên-Việt mà hơn nửa triệu người là nạn nhân. Điều đó tôi nghĩ cũng từ mẹ tôi. Cả đời bà, bà dạy tôi và các anh chị tôi:
“Có đức mặc sức mà ăn.”
xem ra quá chí lí.
Nếu không có những may mắn đó, không biết giờ này tôi có còn được ngồi đây gõ computer mà chuyện trò với bạn đọc không, khi đã có rất nhiều anh em đồng ngũ (Khóa 13 Sinh viên SQ Trừ Bị Thủ Đức) và đồng Viện (QH) khi xưa đã bỏ mình trên các chiến trường, trong các trại tù Cộng sản, trong đường rừng và trên biển Đông!
Và tôi nghĩ, họ muốn tôi nói lên giùm họ những điều họ đã nghĩ và chưa nói ra được!
THẦY GIẾT CON RỒI !
Được biết tướng Dương văn Minh tuyên bố danh sách thành phần Chính phủ ngay sau đó, gồm:
- Đại tướng Dương văn Minh, Tổng Thống nước VNCH, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH.
- Thủ tướng: GS Vũ văn Mẫu
- Bộ trưởng Thông tin: DB Lý quý Chung
- Bộ Trưởng Nội Vụ: Nghị sĩ Hồng sơn Đông
- Thứ trường Nội Vụ: Dân Biểu Đoàn Mại.
- Còn lại nhiều chức vụ khác nhưng người kể không nhớ.
Sau khi đã sắp xếp xong, Dương văn Minh mời tất cả Nội các và tay chân thân tín, yểm trợ viên (rất đông) đến họp ở Dinh Hoa Lan, nơi ông ta ở.
Nên nhớ rằng tình hình lúc đó quá bi đát. Việt cộng và quân ta vẫn còn quần thảo với nhau ở mặt trận Long Khánh. Các cửa ngõ vào Sàigòn đều có Việt cộng, đều có mũi tiến công của Việt cộng với nhiều Sư đoàn tinh nhuệ của Bắc việt. Tinh thần quân ta vẫn cao nhưng những tiếp tế, tiếp viện đều đã bị đứt đoạn với quân số không đủ, không còn trông mong gì nữa. Những Cố vấn Mỹ cuối cùng cũng đã đến điểm hẹn để lên phi cơ trực thăng. Dân chúng đô thành Sàigòn thì chỉ nghĩ đến chạy, người ta đã hoảng loạn cực kì vì Việt cộng sắp vào tới nơi rồi.
Người kể chuyện cho biết, sau khi đã an tọa, với định kiến, trước mặt bá quan văn võ, tức tân Nội các của Thủ tướng Vũ văn Mẫu, Dương văn Minh giáo đầu vài câu rồi bảo mọi người im lặng. Ông ta quay phôn cho Thượng tọa Thích trí Quang. Dương văn Minh nói lớn, tất cả mọi người đều nghe, và lời nói từ đầu giây kia cũng nói lớn nên ai cũng nghe rõ cuộc đối thoại:
-“Alô, Alô. Thưa có phải là thầy Trí Quang đấy không ạ?”
Đầu giây kia:
- “Phải, tôi là Thượng tọa Trí Quang đây. Ai đó?”
Đại tướng Dương văn Minh:
- “Thưa thầy, con là Dương văn Minh đây! ”
Đầu giây kia:
- “Có gì đấy Đại tướng?”
- “Thưa thầy, Quốc hội đã trao quyền Tổng Thống cho con 10 giờ đêm hôm qua và hôm nay con đã sắp xếp xong Nội các của con rồi. Con xin báo cáo thầy và con muốn xin thầy liên lạc với Chính phủ HàNội để thu xếp một cuộc ngưng bắn...”
Đầu giây kia:
- “Tôi đã giúp cho Đại tướng lật đổ Diệm, nay lại hạ bệ cả Thiệu, tù giờ phút này thì Đại tướng phải tự lo lấy...Nhiệm vụ của tôi đến đây là chấm dứt!!!”
Dương văn Minh có vẻ hốt hoảng:
- “Thưa thầy, thầy nói sao ạ?”
Thích Trí Quang:
- “Tôi nói từ giờ phút này, Đại tướng phải tư lo liệu lấy. Nhiệm vụ của tôi đến đây là chấm dứt!”
Dương văn Minh thảng thốt la to lên:
- “Thầy giết con rồi!”
Nói xong câu đó, Dương văn Minh cấm khẩu, quăng cái điện thoại, mặt tái xanh tái tử cắt không còn giọt máu. Ông ôm đầu, tỏ vẻ rất đau khổ, ngồi bất động một lúc lâu vì cú “sốc” quá nặng. Còn các tai to mặt lớn ngồi xung quanh, từ Vũ văn Mẫu trở xuống đều xanh xám mặt mày, thở dài thở vắn, không nói không rằng, tỏ vẻ vô cùng thất vọng. Không khí cuộc họp trở nên ngạt thở, tưởng là vui sướng lại hóa ra buồn lo.
Đó là cuộc họp đầu và cũng là cuộc họp cuối của Nội các Vũ văn Mẫu do Dương văn Minh lập ra.
VÀI ĐIỀU CẦN NÊU LÊN Ở ĐÂY
a- Dương văn Minh có quá nhiều tham vọng từ hồi được Tổng Thống Ngô đình Diệm cử làm Tư lệnh chiến dịch Rừng Sát để diệt trừ Bảy Viễn (Bình Xuyên) mặc dù họ Dương chỉ là cái cốt khố đỏ, thiển cận và theo nhiều sĩ quan cao cấp trong Bộ TTM nói với người viết, Dương văn Minh đầu óc rất trì độn, không xứng đáng là một vị tá chứ chưa nói đến tướng.( Đại tá Nguyễn hữu Duệ có viết trong cuốn hồi ký của ông “Những ngày bên cạnh TT Ngô đình Diệm” có kể Dương văn Minh ăn chận một “sắc ma ranh” đầy tiền Đông dương và kim cương, binh sĩ tịch thu được của tên Paul, con Bảy Viễn; trong chiến dịch Rừng Sát. Dương văn Minh lấy luôn không báo cáo với TT Ngô đình Diệm nhưng TT Diệm biết được, liền cho DVM ngồi chơi xơi nước nên DVM đem lòng oán hận. Dương văn Minh trả thù anh em TT Ngô vào dịp 2-11-1963, đồng lõa với Trần thiện Khiêm)
b- Dương văn Minh trông cậy vào Thích Trí Quang, coi Trí Quang như một siêu quyền lực có thể giúp Dương văn Minh gỡ những ván cờ bí khi Minh lên làm TT/VNCH.
c- Dương văn Minh cũng nghĩ Thích Trí Quang rất có “thớ” với Hà Nội, nói gì Hà Nội cũng phải nghe. Khi Trí Quang gạt phắt về vụ xin ngưng bắn, Dương văn Minh đã quá thất vọng và cả “nội các” Vũ văn Mẫu tái mặt. Lý quý Chung hiện rõ nguyên hình gia nô CS, nhưng sau cùng thì y hối hận. Y diễn tả sự ăn năn trong cuốn hồi kí của y trước khi chết. Khi Lý quý Chung còn sống, cha của Lý quý Chung đã mắng con khi thấy con mê muội theo CS:”Mày mù hay sao mà đi làm tôi mọi cho CS? Đến nước này mà mày không nhìn ra chân tướng CS?”
Còn Vũ văn Mẫu, trí thức rởm, thiển cận không biết phải trái, hay dở không xứng danh trí thức từ khi y xuống tóc thời TT Ngô đình Diệm, lòn trôn Ấn Quang, chó hùa phản đối nhà Ngô về vụ treo cờ Phật giáo. Y cũng như nhiều tên khác, ăn cơm QG thờ ma CS, như: Lý chánh Trung, Nguyễn văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Vũ Hạnh, Hồ ngọc Nhuận, Ngô công Đức, Phan xuân Huy, Nguyễn văn Binh, Kiều mộng Thu, Đinh văn Đệ, Nguyện hữu Hạnh, cha hổ mang Phan khắc Từ, Trương bá Cần, Thiện Cẩm v.v... là những tên phản bội QG, lòn trôn CS để chẳng được gì, lại mất trắng cả cuộc đời với CS, không được đồng bào thương, thông cảm như BS Dương quỳnh Hoa, Nguyễn văn Trấn...
Những con người giả trá, lưu manh này cần phải lột mặt nạ cho đồng bào thấy. Phan khắc Từ có được một chút “lợi” là y vẫn làm LM, chánh xứ Vườn Xoài, vẫn dâng lễ hàng ngày, đi gặp Hồng Y Phạm minh Mẫn, nhưng y vẫn lấy vợ, đẻ con. Người CG đã tởm lợm y như một cái quái thai, một con chó ghẻ!
d- Nhìn thành phần nội các Vũ văn Mẫu, người ta thấy hầu hết là bọn xôi thịt, ham chức quyền, ham bổng lộc, không vì dân tộc đất nước gì hết mà chỉ ngóng một chiếc ghế để vơ vét, làm giầu, nhất là những chiếc ghế như Thủ tướng, Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại, Bộ trưởng Tài chánh, Thống đốc Ngân Khố QG, Tư lệnh, Giám đốc Cảnh sát...Nay nghe Trí Quang phán một câu xanh rờn:”Nhiệm vụ tôi chấm dứt” làm nhiều anh té ngửa, lên kinh phong, cấm khẩu, bởi quá thất vọng, nhất là Lý quý Chung và Vũ văn Mẫu, hai tên Việt gian tay sai của Ấn Quang và là xung kích cho CS.
Nội các này hi vọng sẽ là thành phần thứ ba, không QG không CS, để cai trị miền Nam, ít nhất cũng làm được vài năm, lợi dụng vơ vét, sau đó ra đi đường đường chính chính nếu có thay đổi nữa chứ không phải trốn chui trốn nhủi như hiện tại (cuối tháng 4-75). Nào ngờ cả thầy lẫn tớ lọt vào cái rọ của VC, nhiều anh phải vào trại tù cải tạo, có anh chết ở trong tù.
e- Từ bên Tây, bên Anh, bên Mỹ về, nhiều chính khách “sa-lông” (xin miễn nêu tên) trước hi vọng bao nhiêu, nay vỡ mộng với Dương văn Minh bấy nhiêu vì không được mời một chức vụ gì, hụt giò hụt cẳng mà tình hình quân sự thì quá đen tối. Nhiều anh chị muốn trở lại Âu châu trốn cái lò thuốc súng Sài gòn không biết sẽ nổ tung lúc nào nhưng không kịp nữa. Chỉ còn chờ ngày trình diện VC đi tù. Thực không cái dại nào giống cái dại nào!
f- Đến lúc đó, lúc mà VC vào gần đến Sàigòn, tòa đại sứ Mỹ đã di tản, mặt trận cuối cùng ở Long Khánh với tướng Lê minh Đảo sắp kết thúc, với vài trái bom CBU mà Dương văn Minh vẫn còn như người mộng du, mơ tưởng một cuộc ngưng bắn, gọi Trí Quang giúp. Thảo nào các sĩ quan làm việc với y bảo y trì độn là rất đúng! Giả sử có CP ba thành phần, ngưng bắn thiệt mà giao miền Nam cho y thì khác nào trao cho đứa bé lẫm chẫm biết đi quả trứng gà cho nó cầm chơi!
g- Bây giờ ta hãy bình tâm ngồi nhìn hai miền Bắc và Nam VN.
Bắc do Hồ tặc và thủ hạ cai trị bằng chủ nghĩa Mác-Lênin quá sắt máu, gian dối, tàn ác, lừa phỉnh khiến nhân dân đồ thán, nghèo túng, lầm than cơ cực và bị giết chóc cả mấy triệu trong hơn nửa thế kỉ, truyền thống đạo lí, văn hóa tiêu vong cùng với biển đất dâng cho ngoại bang để đổi lấy vũ khí giết anh em miền Nam....
Miền Nam có Dân chủ, Tự do, Nhân quyền nhưng ngoài TT Ngô đình Diệm là tương đối khá.(nhưng TT Diệm đã bị bọn khố xanh khố đỏ theo lệnh Mỹ giết nên mới xẩy ra ngày 30-4-75). Bọn còn lại, tên thì khố đỏ khố xanh, trì độn, ba búa như Trần thiện Khiêm, Nguyễn chánh Thi, Vương văn Đông, Nguyễn triệu Hồng v.v...Những tên làm tay sai cho giặc Cộng, cõng rắn cắn gà nhà, ăn cơm QG thờ ma CS như Ngô công Đức, Phan xuân Huy, Nguyễn văn Binh...,;
tên về liếm gót giầy kẻ thù như Nguyễn cao Kỳ, Đỗ Mậu và tên nhạc sĩ già mất nết Phạm Duy v.v....
Xin hãy công bình suy xét, đất nước chúng ta, từ những người lãnh đạo cả hai Miền đồng thời như thế, có khá được không???
Vài trăm năm nữa cũng chưa đuổi kịp Singapore đâu, thưa bạn đọc!
KHÔNG THÀNH CÔNG THÌ THÀNH NHÂN
Tôi không nhớ hết những nhóm quân nhân cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đã đứng thành vòng tròn, hát bài Quốc ca: ”Này công dân ơi!..”rồi hô: "Việt Nam muôn năm”, " QLVNCH muôn năm”
rồi 1,2,3, mở dăm quả lựu đạn đồng thời. Những người anh hùng này thà chết chứ không chịu rơi vào tay giặc mà từ bao năm họ đã chiến đấu kiêu hùng dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho ba miền.
- Tôi đã quên tên Người Anh Hùng, Trung tá TQLC đã tự sát bằng lựu đạn ở vườn hoa trước Hạ Nghị Viện; nhưng tôi không quên Trung tá Võ ngọc Đường khóa 11 Đàlạt đã tự sát tại BCH Biệt động quân và Đại tá Hoàng văn Hoàn thuộc đơn vị 101 (Nhảy toán ra Bắc)Vùng 3 Chiến thuật (trực thuộc phòng Nhì Bộ TTM) đã tự sát ngay trước sân cờ Bô TTM ngày 30-4-75 sau khi Dương văn Minh đầu hàng CS. Còn rất nhiều nữa mà có lẽ chúng ta phải thâu thập tài liệu hình ảnh để làm một cuốn sách riêng về ngày 30-4-1975 lưu lại cho con cháu đọc và hiểu rõ mọi ngọn ngành, vì sao có cuộc chiến đó, Việt gian CS xâm lược cưỡng chiếm với vũ khí của quốc tế CS ra sao và miền Nam đã tự vệ với sự giúp đỡ của người Mỹ như thế nào?
Tôi không đồng ý với LS Cung đình Thanh, trong bài Thế nước, lòng dân” đăng trên Diễn đàn Huyết Hoa, có câu rằng:
“Năm 1973 Hòa hội Paris......
Không biết u mê nào đã dẫn dắt những lãnh đạo của hai miền đất nước (VN) hai bên vẫn tiếp tục quần thảo nhau và để rốt cuộc đầu năm 1975, Cộng sản đã cưỡng chiếm miền Nam...”
Tôi thiển nghĩ những người cầm bút nên cẩn trọng khi viết về những dữ kiện lịch sử.
Ông Cung đình Thanh cần nhớ rằng, Hồ chí Minh và đảng Việt gian CS miền Bắc đã xua quân vào quấy phá, giết hại người miền Nam chứ không phải u mê nào đã dẫn dắt những lãnh đạo của hai miền tiếp tục quần thảo nhau đâu.
Nếu Hồ chí Minh còn sống, ông chỉ hỏi Hồ là rõ tất cả. Hồ chết rồi thì còn người dân hai miền, nhất là dân miền Nam là biết ai gây ra chiến tranh, ai chỉ đóng vai thế thủ.
Người miền Nam, từ Tổng Thống Ngô đình Diệm cho đến TT Nguyễn văn Thiệu sau này, chỉ có tự vệ, chỉ có chống đỡ, giặc xông vào đánh mình thì mình phải đánh trả, đuổi chúng về Bắc chứ không có xâm lược ai, không tự nhiên đem quân đánh người khác, nhất là người miền Bắc, đã được quốc tế thỏa thuận cho cả hai miền đình chiến cũng như đã chia thành 2 miền theo Hiệp định Geneva năm 1954.
Ông Cung đình Thanh cũng cần nhớ rằng, Việt gian CS gây ra muôn vàn tang tóc điêu linh cho cả đôi bên chứ người miền Nam chỉ mong được VC để yên để làm ăn, học hành và tiến bộ. Đó là sự thực chúng ta không thể chối bỏ được. Nếu VC không xâm chiếm miền Nam thì miền nào ở yên miền ấy, nước VN vẫn có hòa bình như Nam và Bắc Hàn, Đài loan và lục địa và Đông Đức với Tây Đức.
- Tôi không nhớ chính xác con số vài trăm viên chức và Cảnh sát xã ấp ở Tuy Hòa bị CS bắt đứng ra xếp hàng cho chúng xử tử ngay khi chúng chiếm được Tuy Hòa, Phú Yên.
- Đồng viện với tôi, một DB khá thân, đã đứng tuổi, cùng tôi từng ngồi tâm sự về tình hình thời cuộc khi chúng tôi có giờ giải lao tại HNV, đó là anh Nguyễn Mậu, DB Quảng Tín, lập trường QG vững chắc, đã bị CS bắn ngay khi chúng vừa chiếm được Quảng Tín chỉ vì anh kiên định lập trường Quốc gia dân tộc, không nhường bước CS.
- Một đồng viện khác của tôi, anh Huỳnh văn Lầu, đạo Hòa Hảo, DB Châu đốc, một người bộc trực, ăn to nói lớn, lập trường QG, đã bị CS đưa ra sân vận động bắn khi chúng vừa chiếm được tỉnh này.
Còn rất nhiều anh hùng liệt nữ khác đã chết cho miền Nam trong ngày 30-4-75 mà bài này không thể đề cập hết. Những anh hùng Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, Trần văn Hai, Lê nguyên Vỹ, Hồ ngọc Cẩn, Nguyễn đình Bảo, và rất nhiều cấp Tá, cấp Úy, Hạ sĩ quan, binh sĩ v.v..., những người con yêu của Tổ quốc sẽ muôn đời được ghi nhớ bởi những chiến tích trừ gian, khử bạo, tiêu diệt bọn Việt gian CS gian ác, phi nhân, phi dân tộc, đặt mình làm nô lệ cho CS quốc tế, bán đứng đất nước cho ngoại bang!
Tôi chân thành nghiêng mình kính cẩn trước hương linh chư vị anh hùng liệt nữ đã hi sinh vì miền Nam Tự Do Dân chủ. Tôi cam đoan với quí vị rằng, quí vị đã ra đi nhưng danh thơm còn mãi mãi bởi các vị đã làm đúng, đứng về phía lẽ phải và Dân tộc, như ngày nay, cả thế giới công nhận sự hi sinh hữu ích của quí vị, phủ nhận bạo quyền hung ác tàn phá nước Việt. Những Nguyễn khoa Nam, Hồ ngọc Cẩn v.v...sẽ sống mãi trong lòng dân tộc và nhân dân thế giới tự do Trái lại, bạo quyền đã bị nhân dân VN và nhân dân thế giới phỉ nhổ, thóa mạ và còn tiếp tục thóa mạ dài dài. Quốc Hội Âu châu ngày 12-7-2007 lại lên án chế độ dã man tàn bạo CSVN, đòi CS phải tôn trọng Nhân quyền và các quyền Tự do của Nhân dân Việt Nam.
--------------------------------------------------------------------------------
TRÌNH DIỆN ĐI TÙ CẢI TẠO
Ngày 1-5-1975, Ủy Ban Quân quản của Việt Gian Cộng sản ở Sàigòn thông báo trên Radio, Truyền hình là các quân nhân, công chức các cấp trong chính quyền Sàigòn phải đi trình diện tại đơn vị cũ của mình. Ai bất tuân sẽ bị nghiêm trị. Các Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH phải đến Văn phòng HNV trình diện.
Người bạn của Bút Xuân, tức anh A ở những bài trước, mặc quần áo lèng xèng, đi xe ôm lên HNV (xe hơi phải bỏ xó) trình diện vào ngày 2-5-75 thì gặp đồng viện là DB Nguyễn văn Kim, hai anh rủ nhau vào trình diện.
Vào đến văn phòng hỏi nhân viên bây giờ trình diện ai? Nhân viên nói nhỏ:
- “Các ông Dân Biểu phải trình diện ông cựu DB Nguyễn văn Phước, bây giờ là Thượng tá công an CS đấy."
Thượng tá Phước ngồi ở văn phòng ông Lê công Thành (nguyên Tổng Quản Trị/HNV, tức là một công chức cao cấp lo về hành chánh, lương bổng nhân viên).
Hai anh A và Kim gõ cửa vào, thấy DB Nguyễn văn Phước (đơn vị Châu đốc), một đồng viện của mình trước đây, rất mờ nhạt trong sinh hoạt HNV, đang ngồi ở bàn làm việc, nhìn ra, mặt mày vênh lên, ra vẻ ta đây, trông rất hách.
Thượng tá công an CS Nguyễn văn Phước đeo kính đen, mặc một bộ quần áo bốn túi mầu gụ, như kiểu đại cán, đi dép Bình-Trị-Thiên (lốp xe hơi), vai khoác cái khăn rằn của dân miền Nam, đường đường là một cán bộ cấp cao Cộng Sản, hét ra lửa, mửa ra khói. Một cái nón cối mầu cỏ úa để cạnh bàn.
Sau khi lễ phép chào, anh A hỏi:
-“Thưa anh Phước, chúng tôi đến trình diện theo lệnh của Ủy Ban Quân quản thành phố Sàigòn. Chúng tôi phải trình diện ai thưa anh?”
Nguyễn văn Phước vỗ vào ngực mình, hươi hươi tự đắc, lên giọng kẻ cả:
-“Các anh trình diện tôi, chứ trình diện ai!”
Sau đó NVP chỉ cho hai anh Kim và A đến cái bàn đã có cuốn sổ ghi tên, ngày giờ, kí tên trình diện.
Nhìn quang cảnh, Dân Biểu A thấy các nhân viên HNV, từ Giám đốc đến thư kí, đến cảnh lại, tùy phái xanh mắt khi nghe DB Nguyễn Văn Phước tự xưng là Thượng tá CS, tiếp thu HNV. Mọi người đều chạy có cờ khi Phước sai bảo. Phước rất hống hách để tỏ uy quyền làm nhân viên HNV nghĩ rằng các quan CS chỉ nói miệng:”cán bộ là đầy tớ dân, công an với dân như cá với nước” nhưng thực sự công chức thời Pháp thuộc kể cả những người bị gọi là cường hào ác bá khi xưa cũng không phách lối, hách dịch, kiêu căng với dân bằng cán bộ, công an Cộng sản. Trong nhân dân có câu thành ngữ:
Không quan nào sướng bằng quan Cộng sản
Không dân nào khổ như dân trong chế độ Cộng sản.
Khi hai anh A và Kim chào, ra về, Thượng tá công an Phước bảo hai anh:
-“Các anh có gặp anh em bảo họ phải đến trình diện đúng kì hạn. Nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng, cách mạng sẽ khoan hồng cho các anh. Nếu trốn tránh sẽ bị nghiêm trị.”
Hai anh A và Kim dạ dạ, vâng vâng ra về với một nỗi buồn lo: không biết tương lai mình sẽ ra sao đây?
....
GS Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC
Cựu DB Hạ Nghị Viện VNCH
(vnfa)
Trần Đính Ngọc
... Sau khi Dân Biểu Cộng Sản nằm vùng Lý quý Chung, một đệ tử thân tín và trung thành của tướng Dương văn Minh, vào buổi họp chót của Quốc Hội Lưỡng Viện VNCH, tức là vài ngày sau cùng của Miền Nam VN thân yêu còn trong tay người Quốc gia, Lý quý Chung, với định kiến và đã bàn với Dương văn Minh, Vũ văn Mẫu cũng như chịu lệnh của Thích Trí Quang, y đã “tả xông hữu đột”, hết sức thuyết phục Quốc hội Lưỡng viện VNCH trao quyền Tổng Thống cho Dương văn Minh, càng sớm càng tốt.
Lý quý Chung đã viện dẫn nhiều lí do, đưa ra những lời cam kết long trọng rằng chỉ có Đại tướng Dương văn Minh mới cứu vãn được tình thế đã quá suy sụp này. Y tha thiết xin Quốc Hội sớm trao quyền TT cho Đại tướng Dương văn Minh kẻo nguy ngập lắm rồi. Hơn nữa, trong cuộc trao đổi ở giữa cuộc họp chính, bởi vì không khí căng thẳng quá, các Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ Viện, các trưởng Khối của Quốc Hội được hội ý với các Đại sứ như Pháp, Mỹ, Canada v.v... theo đó Cộng hòa miền Nam VN được bắn tin rằng Hà Nội có thể nói chuyện với Chính Phủ Dương văn Minh (một ngón đòn của Hà Nội, ghi chú của người viết) và còn đưa ra kì hạn là 12 giờ đêm nay nếu Hà Nội không nhận được tin QH/VNCH trao quyền cho Dương văn Minh thì chúng sẽ gủi vào 10,000 đạn pháo 122 ly cho dân Sàigòn. Vì thế đêm đó, 27-4-1975, lúc hơn 10giờ, Quốc Hội đã bỏ phiếu thỏa thuận Đề luật đó bởi chẳng còn con đường nào khác.
Tôi đã dự một phiên họp Quốc Hội vô cùng gay cấn, căng thẳng thần kinh, bàng hoàng nghĩ rằng miền Nam đã đến ngày tận số, còn ai có cây đũa thần biến đổi tình hình miền Nam này được và tôi ngồi đây, cũng chỉ là để chứng kiến một cuộc bức tử thảm thiết (trong đó tôi cũng là một thành phần); cái thòng lọng đã treo lơ lửng trên đầu tội nhân “vô tội”, ngực gắn mảnh giấy ghi 4 chữ đỏ trên nền vàng: “Việt Nam Cộng Hòa” sau 21 năm kiên cường chống Cộng sản, bọn người với dã tâm xích hóa toàn vùng Đông Nam Á.
Ông TT Nguyễn văn Thiệu đã xin rút khỏi chức vị TT để trở về với Quân Đội đặng có thêm “một tay súng”(!) cho Quân Đội, trao quyền cho cụ Trần văn Hương.
Cụ Trần văn Hương già yếu, vốn xưa nay chỉ là nhà giáo, nhờ cụ dạy và làm gương về đạo đức và thanh liêm hoặc hành chánh thì được nhưng nhờ cụ đánh đông dẹp bắc, an định tình thế, chỉ huy tướng lãnh trong lúc hỗn loạn như thế này thì quả là “đưa người yếu đi đánh vật và chỉ trao quyền lấy được”. Cụ không muốn nhận là phải bởi cụ có biết gì về quân sự!
Và đến bây giờ là Dương văn Minh!
Tôi nhớ bữa đó có một số DB, NS vắng mặt, vắng mặt nhiều nhất trong những phiên họp QH Lưỡng viện từ ngày tôi vào Quốc Hội. Tôi thông cảm, ai cũng tìm đường sống nhưng còn nhiệm vụ nặng nề thì bỏ cho ai đây? Chẳng lẽ chỉ làm DB, NS những lúc thanh bình, được ăn trên ngồi trốc, sung sướng bản thân và gia đình còn lúc quốc biến thì nhanh chân chuồn, trước tất cả mọi người? Lương tân kẻ sĩ không cho phép ta làm điều đó!
Bởi thế sau này, cuối năm 1985, khi cả gia đình tôi được đoàn tụ ở Hoa Kỳ, sau khi đã mất hết tài sản một đời làm việc, dành dụm vì cho con vượt biển, băng rừng, nhà tôi cứ trách tôi rằng chính vì tôi bỏ mấy chiếc tầu đánh cá ở Bến Đá Vũng Tàu về họp QH Lưỡng viện bữa đó mà suýt nữa cả gia đình tiêu tan và suýt nữa tôi đi tù cải tạo không có ngày về, có khi đã chết.
Tôi nhớ, đang cuộc họp này, cuộc họp QH Lưỡng Viện ngày 27-4-1975, một Cảnh lại trình lên bà Nguyễn thị Hai, Đệ nhị Phó chủ tịch HNV, lúc đó bà đang ngồi trên bàn Chủ tọa, báo rằng bà có một cú điện thoại cần. Sau khi nghe ĐT, bà Hai bỏ đi một nước không trở lại họp nữa. Sau này được biết rằng, máy bay đang đợi bà trong Tân Sơn Nhất, họp chẳng họp thì đừng!
Chiến lược bỏ miền Trung của TT Nguyễn văn Thiệu sai lầm ngay từ đầu nên ngày nay tướng Ngô quang Trưởng, Tư lệnh Vùng I Chiến thuật còn phàn nàn, một cuộc rút lui vô tổ chức khiến hại người, hại của và cũng vì chạy vô trật tự như thế, Cộng quân đã được đà đánh đuổi quân dân ta. Người dân chạy tán loạn trên đường, leo lên xà lan, lên tầu, Cộng quân pháo theo chết như rạ thây rớt xuống biển, xuống sông, thây nằm đầy đường, máu me cùng khắp, thực chưa có một chiến trận nào thảm khốc bằng.
Từ cuộc tháo chạy ở miền Trung ấy, quân, dân miền Nam đã mất nhuệ khí, điều rất cần trong khi đánh giặc, nhiều đơn vị chạy vào đến Sàigòn thì quân số đã hao hụt, tán lạc quá nửa, không còn tập trung lại được mà cũng chẳng có ai đứng ra làm việc ấy. Qua ngày 28, tướng tá đã đi khá nhiều; Thiệu, Khiêm, Kỳ, Cao văn Viên, Thủ tướng Nguyễn bá Cẩn v.v...có lẽ đang ung dung ở ngoại quốc bởi những anh này dư phương tiện. Chỉ dân đen với chức quyền không phương tiện là khốn khổ!
Dù có biết sách lược triệt thoái miền Trung là sai, tất cả đã quá trễ. Người ta bảo TT Nguyễn văn Thiệu tính “tháu cáy” Mỹ, để Mỹ sớm gửi quân viện cho miền Nam (vì không quân viện là phải chết) nhưng Mỹ đã có chương trình riêng của Mỹ, Mỹ “don’t care”. Ông Thiệu có nói một câu đáng cho ta suy nghĩ: “Làm kẻ thù của Mỹ dễ hơn là làm đồng minh với Mỹ”.(Liệu ngày nay, Mỹ có thể dùng Việt cộng như cái lá chắn Trung cộng được không?)
Thực vậy, điều vô cùng quan trọng và là chìa khóa của ván bài: Chính phủ Mỹ, do tiến sĩ giấy Henry Kissinger thao tác, đã đi đêm với Nga-Tàu, mặc cả, đổi chác, quyết lòng dâng miền Nam cho CS quốc tế (mà Việt gian CS chỉ là tay sai, được CS quốc tế cho phép quản lí) để đổi lấy một cái gì đó chỉ họ biết với nhau; thí dụ để đổi lấy an toàn cho Đài loan, hay dồn tiềm lực lo cho Do Thái (nước mẹ của Kissinger) đang bị nhiều áp lực từ khối Hồi giáo ở Trung đông v.v... (Đã đến nước đó thì VNCH mạnh mấy cũng phải qui hàng. Tương tự, nếu Việt gian CS cũng bị quốc tế CS hi sinh để đổi chác với Hoa Kỳ thì Hà Nội sẽ có rừng cờ vàng ba sọc đỏ ngay. Bởi thế, những anh cán ngố chớ nên kiêu căng, tự phụ!)
Kể từ sau khi QH bỏ phiếu “Thuận”, trao quyền TT cho Dương văn Minh đêm đó, Bộ Tham Mưu của Dương văn Minh rất hồ hởi phấn khởi, anh nào cũng đinh ninh là mình sẽ có một ghế Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng; tép riu cũng Tổng Giám đốc, Giám đốc...những anh tự nhận thành phần thứ ba, ở trong nước và từ Pháp, từ Mỹ về cũng hi vọng tràn trề; còn Vũ văn Mẫu, con đẻ của Ấn Quang, một tên Việt gian xuẩn động ăn cơm QG thờ ma CS thì nắm chắc cái ghế Thủ tướng. Những anh há họng chờ sung này nghĩ rằng cuộc đời sẽ đẹp như mơ!
Nhưng ở đời, thấy vậy mà không phải vậy!
TỰ DO HAY LÀ CHẾT
Buổi họp Quốc hội Lưỡng viện hôm đó, với cá nhân tôi, cũng là buổi họp Quốc Hội cuối cùng trong 4 năm Dân Biểu Hạ Nghị Viện (1971-1975) vì như đã trình bày, tôi biết chắc chắn Sàigòn sẽ mất đến nơi, tự nhủ lòng bằng bất cứ giá nào, tôi phải tìm đường ra ngoại quốc dù có để lại tài sản hàng nghìn tỉ đô-la (tôi không có, nhưng giả sử có) cũng không hề tiếc xót. Khi tôi mới hơn chục tuổi đầu, bố tôi đã căn dặn tôi không được đi theo, sống với Vẹm vì Hồ là một tay Việt gian hung ác cực kì, không thể tin được. Bố tôi đã gia nhập VNQDĐ, đã du học Tàu và Nhật thới Đông kinh Nghĩa thục của các cụ Phan bội Châu và Phan chu Trinh, và chắc chắn là bố tôi đã quá rõ về ông Hồ chí Minh. Bố tôi đã bị Pháp và Việt Minh bắt giam nhiều lần rồi thả.
Vì thế, với tôi, tâm tâm niệm niệm lời bố tôi nói, sống nghèo, thanh đạm, đủ ăn cũng được nhưng có tự do bởi tự do quí như sinh mạng con người. Sống mà không có tự do, thà chết sướng hơn như nhà tư tưởng Hoa Kỳ, Franklin, đã nói:”Give me Liberty or give me death” (Cho tôi tự do hay là giết tôi đi). Giầu có, tiền nhiều thóc dư mà sống trong nhà tù (dù lớn là cả nước như VN hiện nay, hay nhỏ là trại giam) thì cuộc sống cũng vô nghĩa.
Tân đệ nhất phu nhân Pháp, bà Cecilia Sarkozy, nói với báo chí khi TT Nicolas Sarkozy mới đắc cử tháng 6-2007, là bà không thích hợp với vai trò đệ nhất phu nhân (tù túng) ở điện Elysée mà bà thích mặc chiếc quần jean, cái áo thung đi bát phố, muốn tấp vào đâu coi, ăn quà, xem ciné cũng được, không ai nhòm ngó, không ai phiền hà. Đó chính là tự do.
Còn công nương Diana, hoàng gia Anh, lúc sinh thời cũng cùng một ý nghĩ y như Cecilia Sarkozy. Ấy là hai phụ nữ trẻ này đang sống trong hoàng cung, sung sướng bậc nhất, muốn gì được nấy mà vì nghi lễ bó buộc của phủ tổng thống, của hoàng tộc, hai bà đã phải thốt ra như thế. Đủ biết tự do quan trọng cho đời sống như thế nào!
LM Nguyễn văn Lý, người anh hùng của dân tộc VN đã tuyên bố ở giáo xứ Nguyệt Biều trước khi bị công an CS bắt:
“Tự Do tôn giáo hay là chết”
Sau này, LM Nguyễn văn Lý không chỉ tranh đấu cho Tự do tôn giáo mà cho các quyền tự do của đồng bào VN: Tự do ngôn luận, tự do ra báo, tự do hội họp, lập đảng chính trị, tự do ứng cử, bầu cử, tự do đi lại v.v...Những quyền tự do ấy không một công dân nào không cần và theo Công pháp quốc tế, không một quyền lực nào có thể xâm phạm hay triệt tiêu chúng khỏi con người.
Hồ tặc và bọn thủ hạ Việt gian chưa hề bị mất tự do nên không biết nó khổ như thế nào nên chúng cứ ngang nhiên đày đọa, ngược đãi người dân, bỏ tù cùm kẹp người dân tàn ác hơn những kẻ độc ác đày đọa những con thú, chà đạp lên sự đau thương thống khổ của đồng bào.
Lí do tôi có tầu vượt biển cho cả gia đình thật giản dị. Tôi quen vợ chồng anh chị Nguyễn văn T. làm nghề ngư phủ ở Bến Đá, Vũng Tàu, những người ít học nhưng chân chất thật thà, CG ngoan đạo. Tôi biết anh T. từ khi ra Vũng Tàu (dăm năm trước 1975) để sinh hoạt với các cháu thiếu nhi trong một giáo xứ CG mà chị T. là đoàn trưởng thiếu nhi, còn tôi là hướng dẫn viên và bảo trợ viên. cho các cháu.
Nhiều lần, tôi và các thiếu nhi, có những anh, chị lớn, đốt lửa trại, ca hát, diễn kịch, học hỏi giáo lí và những điều hữu ích v.v...thật vui và bổ ích. Lần nào ra Vũng Tàu tôi cũng ngủ đêm tại nhà anh chị T., gặp lúc tầu đánh cá của anh chị từ biển về, tôm, cá, sò, ốc ê hề, tôi tổ chức cho các thiếu nhi cùng ăn bữa tối với nhau trước khi đốt lửa trại. Cả đoàn sinh hoạt rất vui vẻ và bổ ích.
PHẢI RA ĐI DÙ SỐNG HAY CHẾT
Đại gia đình anh chị T. (gồm cha mẹ, ông bà, anh, chị em, hiện nay đang ở Hoa Kỳ) có tất cả 5 chiếc tầu đánh cá, hai cái mới tinh, lớn, tốt có thể lênh đênh trên biển hàng vài tháng vẫn có đủ dầu để chạy và thức ăn, nước uống cho nhiều người. Ba cái kia nhỏ hơn nhưng vẫn ra khơi đánh cá cả tuần mới về, mỗi cái chở được cả trăm người.
Bữa đó, tôi có việc ra Vũng Tàu và nhân tiện ghé anh chị T. Tôi nói với anh T. tình hình quân sự với áp lực nặng nề của Cộng quân và lo rằng có thể phải di tản. Anh chị T. mời tôi và gia đình xuống tầu đi với anh chị nếu tình thế quá nguy hiểm. Anh nói đại gia đình có 5 chiếc tầu đánh cá, tôi muốn lên tầu nào cũng được, có thể đi tới Guam, Phi luật tân, Indonesia v.v.... Anh nói sang ngoại quốc, vì anh không biết tiếng Anh, anh nhờ tôi giúp anh chị vấn đề thông dịch, hoặc điền giấy tờ, kiếm việc làm v.v... Được anh chị đồng ý, sau đó tôi đã rủ thêm hai người bạn thiết của tôi, gia đình anh A và gia đình anh T. ở ông Tạ cùng xin đi tầu với anh chị T. Ba người chúng tôi đã đưa cho anh T. hơn 3 triệu đồng, dư dả để mua xăng, dầu thực phẩm và nước uống. Mọi việc sắp xếp xong vào đầu tháng 4-1975 chỉ còn chờ tình hình “biến chuyển mạnh” là ra khơi.
Giữa tháng 4-75, e con đường Vũng Tàu sẽ bị nghẽn vì chiến cuộc, tôi và hai anh bạn A và T đã đưa gia đình ra trú ngụ tại nhà anh T. để chờ ngày lên đường. Khoảng ngày 24 hay 25 gì đó, chúng tôi nghe được lời thông báo trên radio là mời các DB, NS về họp Quốc Hội Lưỡng viện, việc rất quan trọng.
Sau khi nghe nhiều lần nhắc đi nhắc lại, tôi tự nghĩ mình phải về làm nhiệm vụ của DB do cử tri đã trao phó cho mình. Trong lúc dầu sôi lửa bỏng thế này, dân chúng tản lạc hết, chạy trốn hết mà mình cũng bỏ nhiệm sở thì thực thiếu sót. Sau khi suy nghĩ kĩ, tôi dăn gia đình cứ ở lại đó, khi nào gia đình anh chị T. xuống tầu ra khơi thì đi với gia đình anh chị ấy. Họ sống mình sống, họ chết mình chết. Còn phần tôi, tôi phải về Sàigòn họp Quốc hội, sau đó nếu có chuyện gì tôi cũng sẽ tìm đường đi, một mình tôi xoay xở vẫn dễ hơn là có cả gia đình vì các con đa số còn nhỏ.
Dân dò xong, tôi lái chiếc xe LaĐàlạt về Sàigòn. Nhưng khi tôi mới về đến nhà được vài giờ, đang liên lạc với văn phòng HNV thì nhà tôi đưa các cháu về. Hỏi tại sao về? Nhà tôi nói sợ ra ngoại quốc mà tôi bị kẹt lại thì biết xoay xở làm sao ở ngoại quốc. Chết một đống hơn sống một người. Thôi thế là hỏng hết! Tôi than thấm và chính vì thế mà gia đình tôi bị kẹt lại đến 6 năm sau cho những đứa con và gần 11 năm sau nhà tôi với cô con gái áp út mới được đoàn tụ với tôi ở Hoa Kỳ qua diện đoàn tụ.
Dầu sao, Ơn Trên vẫn còn phù hộ gia đình tôi. Của cải bị mất hết vì nhiều chuyến bị lừa vì vượt biển nhưng người thì qua khỏi hết, không bị chết trên biển hoặc trong rừng già biên giới Miên-Việt mà hơn nửa triệu người là nạn nhân. Điều đó tôi nghĩ cũng từ mẹ tôi. Cả đời bà, bà dạy tôi và các anh chị tôi:
“Có đức mặc sức mà ăn.”
xem ra quá chí lí.
Nếu không có những may mắn đó, không biết giờ này tôi có còn được ngồi đây gõ computer mà chuyện trò với bạn đọc không, khi đã có rất nhiều anh em đồng ngũ (Khóa 13 Sinh viên SQ Trừ Bị Thủ Đức) và đồng Viện (QH) khi xưa đã bỏ mình trên các chiến trường, trong các trại tù Cộng sản, trong đường rừng và trên biển Đông!
Và tôi nghĩ, họ muốn tôi nói lên giùm họ những điều họ đã nghĩ và chưa nói ra được!
THẦY GIẾT CON RỒI !
Được biết tướng Dương văn Minh tuyên bố danh sách thành phần Chính phủ ngay sau đó, gồm:
- Đại tướng Dương văn Minh, Tổng Thống nước VNCH, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH.
- Thủ tướng: GS Vũ văn Mẫu
- Bộ trưởng Thông tin: DB Lý quý Chung
- Bộ Trưởng Nội Vụ: Nghị sĩ Hồng sơn Đông
- Thứ trường Nội Vụ: Dân Biểu Đoàn Mại.
- Còn lại nhiều chức vụ khác nhưng người kể không nhớ.
Sau khi đã sắp xếp xong, Dương văn Minh mời tất cả Nội các và tay chân thân tín, yểm trợ viên (rất đông) đến họp ở Dinh Hoa Lan, nơi ông ta ở.
Nên nhớ rằng tình hình lúc đó quá bi đát. Việt cộng và quân ta vẫn còn quần thảo với nhau ở mặt trận Long Khánh. Các cửa ngõ vào Sàigòn đều có Việt cộng, đều có mũi tiến công của Việt cộng với nhiều Sư đoàn tinh nhuệ của Bắc việt. Tinh thần quân ta vẫn cao nhưng những tiếp tế, tiếp viện đều đã bị đứt đoạn với quân số không đủ, không còn trông mong gì nữa. Những Cố vấn Mỹ cuối cùng cũng đã đến điểm hẹn để lên phi cơ trực thăng. Dân chúng đô thành Sàigòn thì chỉ nghĩ đến chạy, người ta đã hoảng loạn cực kì vì Việt cộng sắp vào tới nơi rồi.
Người kể chuyện cho biết, sau khi đã an tọa, với định kiến, trước mặt bá quan văn võ, tức tân Nội các của Thủ tướng Vũ văn Mẫu, Dương văn Minh giáo đầu vài câu rồi bảo mọi người im lặng. Ông ta quay phôn cho Thượng tọa Thích trí Quang. Dương văn Minh nói lớn, tất cả mọi người đều nghe, và lời nói từ đầu giây kia cũng nói lớn nên ai cũng nghe rõ cuộc đối thoại:
-“Alô, Alô. Thưa có phải là thầy Trí Quang đấy không ạ?”
Đầu giây kia:
- “Phải, tôi là Thượng tọa Trí Quang đây. Ai đó?”
Đại tướng Dương văn Minh:
- “Thưa thầy, con là Dương văn Minh đây! ”
Đầu giây kia:
- “Có gì đấy Đại tướng?”
- “Thưa thầy, Quốc hội đã trao quyền Tổng Thống cho con 10 giờ đêm hôm qua và hôm nay con đã sắp xếp xong Nội các của con rồi. Con xin báo cáo thầy và con muốn xin thầy liên lạc với Chính phủ HàNội để thu xếp một cuộc ngưng bắn...”
Đầu giây kia:
- “Tôi đã giúp cho Đại tướng lật đổ Diệm, nay lại hạ bệ cả Thiệu, tù giờ phút này thì Đại tướng phải tự lo lấy...Nhiệm vụ của tôi đến đây là chấm dứt!!!”
Dương văn Minh có vẻ hốt hoảng:
- “Thưa thầy, thầy nói sao ạ?”
Thích Trí Quang:
- “Tôi nói từ giờ phút này, Đại tướng phải tư lo liệu lấy. Nhiệm vụ của tôi đến đây là chấm dứt!”
Dương văn Minh thảng thốt la to lên:
- “Thầy giết con rồi!”
Nói xong câu đó, Dương văn Minh cấm khẩu, quăng cái điện thoại, mặt tái xanh tái tử cắt không còn giọt máu. Ông ôm đầu, tỏ vẻ rất đau khổ, ngồi bất động một lúc lâu vì cú “sốc” quá nặng. Còn các tai to mặt lớn ngồi xung quanh, từ Vũ văn Mẫu trở xuống đều xanh xám mặt mày, thở dài thở vắn, không nói không rằng, tỏ vẻ vô cùng thất vọng. Không khí cuộc họp trở nên ngạt thở, tưởng là vui sướng lại hóa ra buồn lo.
Đó là cuộc họp đầu và cũng là cuộc họp cuối của Nội các Vũ văn Mẫu do Dương văn Minh lập ra.
VÀI ĐIỀU CẦN NÊU LÊN Ở ĐÂY
a- Dương văn Minh có quá nhiều tham vọng từ hồi được Tổng Thống Ngô đình Diệm cử làm Tư lệnh chiến dịch Rừng Sát để diệt trừ Bảy Viễn (Bình Xuyên) mặc dù họ Dương chỉ là cái cốt khố đỏ, thiển cận và theo nhiều sĩ quan cao cấp trong Bộ TTM nói với người viết, Dương văn Minh đầu óc rất trì độn, không xứng đáng là một vị tá chứ chưa nói đến tướng.( Đại tá Nguyễn hữu Duệ có viết trong cuốn hồi ký của ông “Những ngày bên cạnh TT Ngô đình Diệm” có kể Dương văn Minh ăn chận một “sắc ma ranh” đầy tiền Đông dương và kim cương, binh sĩ tịch thu được của tên Paul, con Bảy Viễn; trong chiến dịch Rừng Sát. Dương văn Minh lấy luôn không báo cáo với TT Ngô đình Diệm nhưng TT Diệm biết được, liền cho DVM ngồi chơi xơi nước nên DVM đem lòng oán hận. Dương văn Minh trả thù anh em TT Ngô vào dịp 2-11-1963, đồng lõa với Trần thiện Khiêm)
b- Dương văn Minh trông cậy vào Thích Trí Quang, coi Trí Quang như một siêu quyền lực có thể giúp Dương văn Minh gỡ những ván cờ bí khi Minh lên làm TT/VNCH.
c- Dương văn Minh cũng nghĩ Thích Trí Quang rất có “thớ” với Hà Nội, nói gì Hà Nội cũng phải nghe. Khi Trí Quang gạt phắt về vụ xin ngưng bắn, Dương văn Minh đã quá thất vọng và cả “nội các” Vũ văn Mẫu tái mặt. Lý quý Chung hiện rõ nguyên hình gia nô CS, nhưng sau cùng thì y hối hận. Y diễn tả sự ăn năn trong cuốn hồi kí của y trước khi chết. Khi Lý quý Chung còn sống, cha của Lý quý Chung đã mắng con khi thấy con mê muội theo CS:”Mày mù hay sao mà đi làm tôi mọi cho CS? Đến nước này mà mày không nhìn ra chân tướng CS?”
Còn Vũ văn Mẫu, trí thức rởm, thiển cận không biết phải trái, hay dở không xứng danh trí thức từ khi y xuống tóc thời TT Ngô đình Diệm, lòn trôn Ấn Quang, chó hùa phản đối nhà Ngô về vụ treo cờ Phật giáo. Y cũng như nhiều tên khác, ăn cơm QG thờ ma CS, như: Lý chánh Trung, Nguyễn văn Trung, Nguyễn ngọc Lan, Vũ Hạnh, Hồ ngọc Nhuận, Ngô công Đức, Phan xuân Huy, Nguyễn văn Binh, Kiều mộng Thu, Đinh văn Đệ, Nguyện hữu Hạnh, cha hổ mang Phan khắc Từ, Trương bá Cần, Thiện Cẩm v.v... là những tên phản bội QG, lòn trôn CS để chẳng được gì, lại mất trắng cả cuộc đời với CS, không được đồng bào thương, thông cảm như BS Dương quỳnh Hoa, Nguyễn văn Trấn...
Những con người giả trá, lưu manh này cần phải lột mặt nạ cho đồng bào thấy. Phan khắc Từ có được một chút “lợi” là y vẫn làm LM, chánh xứ Vườn Xoài, vẫn dâng lễ hàng ngày, đi gặp Hồng Y Phạm minh Mẫn, nhưng y vẫn lấy vợ, đẻ con. Người CG đã tởm lợm y như một cái quái thai, một con chó ghẻ!
d- Nhìn thành phần nội các Vũ văn Mẫu, người ta thấy hầu hết là bọn xôi thịt, ham chức quyền, ham bổng lộc, không vì dân tộc đất nước gì hết mà chỉ ngóng một chiếc ghế để vơ vét, làm giầu, nhất là những chiếc ghế như Thủ tướng, Bộ trưởng Kinh tế, Thương mại, Bộ trưởng Tài chánh, Thống đốc Ngân Khố QG, Tư lệnh, Giám đốc Cảnh sát...Nay nghe Trí Quang phán một câu xanh rờn:”Nhiệm vụ tôi chấm dứt” làm nhiều anh té ngửa, lên kinh phong, cấm khẩu, bởi quá thất vọng, nhất là Lý quý Chung và Vũ văn Mẫu, hai tên Việt gian tay sai của Ấn Quang và là xung kích cho CS.
Nội các này hi vọng sẽ là thành phần thứ ba, không QG không CS, để cai trị miền Nam, ít nhất cũng làm được vài năm, lợi dụng vơ vét, sau đó ra đi đường đường chính chính nếu có thay đổi nữa chứ không phải trốn chui trốn nhủi như hiện tại (cuối tháng 4-75). Nào ngờ cả thầy lẫn tớ lọt vào cái rọ của VC, nhiều anh phải vào trại tù cải tạo, có anh chết ở trong tù.
e- Từ bên Tây, bên Anh, bên Mỹ về, nhiều chính khách “sa-lông” (xin miễn nêu tên) trước hi vọng bao nhiêu, nay vỡ mộng với Dương văn Minh bấy nhiêu vì không được mời một chức vụ gì, hụt giò hụt cẳng mà tình hình quân sự thì quá đen tối. Nhiều anh chị muốn trở lại Âu châu trốn cái lò thuốc súng Sài gòn không biết sẽ nổ tung lúc nào nhưng không kịp nữa. Chỉ còn chờ ngày trình diện VC đi tù. Thực không cái dại nào giống cái dại nào!
f- Đến lúc đó, lúc mà VC vào gần đến Sàigòn, tòa đại sứ Mỹ đã di tản, mặt trận cuối cùng ở Long Khánh với tướng Lê minh Đảo sắp kết thúc, với vài trái bom CBU mà Dương văn Minh vẫn còn như người mộng du, mơ tưởng một cuộc ngưng bắn, gọi Trí Quang giúp. Thảo nào các sĩ quan làm việc với y bảo y trì độn là rất đúng! Giả sử có CP ba thành phần, ngưng bắn thiệt mà giao miền Nam cho y thì khác nào trao cho đứa bé lẫm chẫm biết đi quả trứng gà cho nó cầm chơi!
g- Bây giờ ta hãy bình tâm ngồi nhìn hai miền Bắc và Nam VN.
Bắc do Hồ tặc và thủ hạ cai trị bằng chủ nghĩa Mác-Lênin quá sắt máu, gian dối, tàn ác, lừa phỉnh khiến nhân dân đồ thán, nghèo túng, lầm than cơ cực và bị giết chóc cả mấy triệu trong hơn nửa thế kỉ, truyền thống đạo lí, văn hóa tiêu vong cùng với biển đất dâng cho ngoại bang để đổi lấy vũ khí giết anh em miền Nam....
Miền Nam có Dân chủ, Tự do, Nhân quyền nhưng ngoài TT Ngô đình Diệm là tương đối khá.(nhưng TT Diệm đã bị bọn khố xanh khố đỏ theo lệnh Mỹ giết nên mới xẩy ra ngày 30-4-75). Bọn còn lại, tên thì khố đỏ khố xanh, trì độn, ba búa như Trần thiện Khiêm, Nguyễn chánh Thi, Vương văn Đông, Nguyễn triệu Hồng v.v...Những tên làm tay sai cho giặc Cộng, cõng rắn cắn gà nhà, ăn cơm QG thờ ma CS như Ngô công Đức, Phan xuân Huy, Nguyễn văn Binh...,;
tên về liếm gót giầy kẻ thù như Nguyễn cao Kỳ, Đỗ Mậu và tên nhạc sĩ già mất nết Phạm Duy v.v....
Xin hãy công bình suy xét, đất nước chúng ta, từ những người lãnh đạo cả hai Miền đồng thời như thế, có khá được không???
Vài trăm năm nữa cũng chưa đuổi kịp Singapore đâu, thưa bạn đọc!
KHÔNG THÀNH CÔNG THÌ THÀNH NHÂN
Tôi không nhớ hết những nhóm quân nhân cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đã đứng thành vòng tròn, hát bài Quốc ca: ”Này công dân ơi!..”rồi hô: "Việt Nam muôn năm”, " QLVNCH muôn năm”
rồi 1,2,3, mở dăm quả lựu đạn đồng thời. Những người anh hùng này thà chết chứ không chịu rơi vào tay giặc mà từ bao năm họ đã chiến đấu kiêu hùng dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho ba miền.
- Tôi đã quên tên Người Anh Hùng, Trung tá TQLC đã tự sát bằng lựu đạn ở vườn hoa trước Hạ Nghị Viện; nhưng tôi không quên Trung tá Võ ngọc Đường khóa 11 Đàlạt đã tự sát tại BCH Biệt động quân và Đại tá Hoàng văn Hoàn thuộc đơn vị 101 (Nhảy toán ra Bắc)Vùng 3 Chiến thuật (trực thuộc phòng Nhì Bộ TTM) đã tự sát ngay trước sân cờ Bô TTM ngày 30-4-75 sau khi Dương văn Minh đầu hàng CS. Còn rất nhiều nữa mà có lẽ chúng ta phải thâu thập tài liệu hình ảnh để làm một cuốn sách riêng về ngày 30-4-1975 lưu lại cho con cháu đọc và hiểu rõ mọi ngọn ngành, vì sao có cuộc chiến đó, Việt gian CS xâm lược cưỡng chiếm với vũ khí của quốc tế CS ra sao và miền Nam đã tự vệ với sự giúp đỡ của người Mỹ như thế nào?
Tôi không đồng ý với LS Cung đình Thanh, trong bài Thế nước, lòng dân” đăng trên Diễn đàn Huyết Hoa, có câu rằng:
“Năm 1973 Hòa hội Paris......
Không biết u mê nào đã dẫn dắt những lãnh đạo của hai miền đất nước (VN) hai bên vẫn tiếp tục quần thảo nhau và để rốt cuộc đầu năm 1975, Cộng sản đã cưỡng chiếm miền Nam...”
Tôi thiển nghĩ những người cầm bút nên cẩn trọng khi viết về những dữ kiện lịch sử.
Ông Cung đình Thanh cần nhớ rằng, Hồ chí Minh và đảng Việt gian CS miền Bắc đã xua quân vào quấy phá, giết hại người miền Nam chứ không phải u mê nào đã dẫn dắt những lãnh đạo của hai miền tiếp tục quần thảo nhau đâu.
Nếu Hồ chí Minh còn sống, ông chỉ hỏi Hồ là rõ tất cả. Hồ chết rồi thì còn người dân hai miền, nhất là dân miền Nam là biết ai gây ra chiến tranh, ai chỉ đóng vai thế thủ.
Người miền Nam, từ Tổng Thống Ngô đình Diệm cho đến TT Nguyễn văn Thiệu sau này, chỉ có tự vệ, chỉ có chống đỡ, giặc xông vào đánh mình thì mình phải đánh trả, đuổi chúng về Bắc chứ không có xâm lược ai, không tự nhiên đem quân đánh người khác, nhất là người miền Bắc, đã được quốc tế thỏa thuận cho cả hai miền đình chiến cũng như đã chia thành 2 miền theo Hiệp định Geneva năm 1954.
Ông Cung đình Thanh cũng cần nhớ rằng, Việt gian CS gây ra muôn vàn tang tóc điêu linh cho cả đôi bên chứ người miền Nam chỉ mong được VC để yên để làm ăn, học hành và tiến bộ. Đó là sự thực chúng ta không thể chối bỏ được. Nếu VC không xâm chiếm miền Nam thì miền nào ở yên miền ấy, nước VN vẫn có hòa bình như Nam và Bắc Hàn, Đài loan và lục địa và Đông Đức với Tây Đức.
- Tôi không nhớ chính xác con số vài trăm viên chức và Cảnh sát xã ấp ở Tuy Hòa bị CS bắt đứng ra xếp hàng cho chúng xử tử ngay khi chúng chiếm được Tuy Hòa, Phú Yên.
- Đồng viện với tôi, một DB khá thân, đã đứng tuổi, cùng tôi từng ngồi tâm sự về tình hình thời cuộc khi chúng tôi có giờ giải lao tại HNV, đó là anh Nguyễn Mậu, DB Quảng Tín, lập trường QG vững chắc, đã bị CS bắn ngay khi chúng vừa chiếm được Quảng Tín chỉ vì anh kiên định lập trường Quốc gia dân tộc, không nhường bước CS.
- Một đồng viện khác của tôi, anh Huỳnh văn Lầu, đạo Hòa Hảo, DB Châu đốc, một người bộc trực, ăn to nói lớn, lập trường QG, đã bị CS đưa ra sân vận động bắn khi chúng vừa chiếm được tỉnh này.
Còn rất nhiều anh hùng liệt nữ khác đã chết cho miền Nam trong ngày 30-4-75 mà bài này không thể đề cập hết. Những anh hùng Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, Trần văn Hai, Lê nguyên Vỹ, Hồ ngọc Cẩn, Nguyễn đình Bảo, và rất nhiều cấp Tá, cấp Úy, Hạ sĩ quan, binh sĩ v.v..., những người con yêu của Tổ quốc sẽ muôn đời được ghi nhớ bởi những chiến tích trừ gian, khử bạo, tiêu diệt bọn Việt gian CS gian ác, phi nhân, phi dân tộc, đặt mình làm nô lệ cho CS quốc tế, bán đứng đất nước cho ngoại bang!
Tôi chân thành nghiêng mình kính cẩn trước hương linh chư vị anh hùng liệt nữ đã hi sinh vì miền Nam Tự Do Dân chủ. Tôi cam đoan với quí vị rằng, quí vị đã ra đi nhưng danh thơm còn mãi mãi bởi các vị đã làm đúng, đứng về phía lẽ phải và Dân tộc, như ngày nay, cả thế giới công nhận sự hi sinh hữu ích của quí vị, phủ nhận bạo quyền hung ác tàn phá nước Việt. Những Nguyễn khoa Nam, Hồ ngọc Cẩn v.v...sẽ sống mãi trong lòng dân tộc và nhân dân thế giới tự do Trái lại, bạo quyền đã bị nhân dân VN và nhân dân thế giới phỉ nhổ, thóa mạ và còn tiếp tục thóa mạ dài dài. Quốc Hội Âu châu ngày 12-7-2007 lại lên án chế độ dã man tàn bạo CSVN, đòi CS phải tôn trọng Nhân quyền và các quyền Tự do của Nhân dân Việt Nam.
--------------------------------------------------------------------------------
TRÌNH DIỆN ĐI TÙ CẢI TẠO
Ngày 1-5-1975, Ủy Ban Quân quản của Việt Gian Cộng sản ở Sàigòn thông báo trên Radio, Truyền hình là các quân nhân, công chức các cấp trong chính quyền Sàigòn phải đi trình diện tại đơn vị cũ của mình. Ai bất tuân sẽ bị nghiêm trị. Các Dân Biểu Hạ Nghị Viện VNCH phải đến Văn phòng HNV trình diện.
Người bạn của Bút Xuân, tức anh A ở những bài trước, mặc quần áo lèng xèng, đi xe ôm lên HNV (xe hơi phải bỏ xó) trình diện vào ngày 2-5-75 thì gặp đồng viện là DB Nguyễn văn Kim, hai anh rủ nhau vào trình diện.
Vào đến văn phòng hỏi nhân viên bây giờ trình diện ai? Nhân viên nói nhỏ:
- “Các ông Dân Biểu phải trình diện ông cựu DB Nguyễn văn Phước, bây giờ là Thượng tá công an CS đấy."
Thượng tá Phước ngồi ở văn phòng ông Lê công Thành (nguyên Tổng Quản Trị/HNV, tức là một công chức cao cấp lo về hành chánh, lương bổng nhân viên).
Hai anh A và Kim gõ cửa vào, thấy DB Nguyễn văn Phước (đơn vị Châu đốc), một đồng viện của mình trước đây, rất mờ nhạt trong sinh hoạt HNV, đang ngồi ở bàn làm việc, nhìn ra, mặt mày vênh lên, ra vẻ ta đây, trông rất hách.
Thượng tá công an CS Nguyễn văn Phước đeo kính đen, mặc một bộ quần áo bốn túi mầu gụ, như kiểu đại cán, đi dép Bình-Trị-Thiên (lốp xe hơi), vai khoác cái khăn rằn của dân miền Nam, đường đường là một cán bộ cấp cao Cộng Sản, hét ra lửa, mửa ra khói. Một cái nón cối mầu cỏ úa để cạnh bàn.
Sau khi lễ phép chào, anh A hỏi:
-“Thưa anh Phước, chúng tôi đến trình diện theo lệnh của Ủy Ban Quân quản thành phố Sàigòn. Chúng tôi phải trình diện ai thưa anh?”
Nguyễn văn Phước vỗ vào ngực mình, hươi hươi tự đắc, lên giọng kẻ cả:
-“Các anh trình diện tôi, chứ trình diện ai!”
Sau đó NVP chỉ cho hai anh Kim và A đến cái bàn đã có cuốn sổ ghi tên, ngày giờ, kí tên trình diện.
Nhìn quang cảnh, Dân Biểu A thấy các nhân viên HNV, từ Giám đốc đến thư kí, đến cảnh lại, tùy phái xanh mắt khi nghe DB Nguyễn Văn Phước tự xưng là Thượng tá CS, tiếp thu HNV. Mọi người đều chạy có cờ khi Phước sai bảo. Phước rất hống hách để tỏ uy quyền làm nhân viên HNV nghĩ rằng các quan CS chỉ nói miệng:”cán bộ là đầy tớ dân, công an với dân như cá với nước” nhưng thực sự công chức thời Pháp thuộc kể cả những người bị gọi là cường hào ác bá khi xưa cũng không phách lối, hách dịch, kiêu căng với dân bằng cán bộ, công an Cộng sản. Trong nhân dân có câu thành ngữ:
Không quan nào sướng bằng quan Cộng sản
Không dân nào khổ như dân trong chế độ Cộng sản.
Khi hai anh A và Kim chào, ra về, Thượng tá công an Phước bảo hai anh:
-“Các anh có gặp anh em bảo họ phải đến trình diện đúng kì hạn. Nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng, cách mạng sẽ khoan hồng cho các anh. Nếu trốn tránh sẽ bị nghiêm trị.”
Hai anh A và Kim dạ dạ, vâng vâng ra về với một nỗi buồn lo: không biết tương lai mình sẽ ra sao đây?
....
GS Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC
Cựu DB Hạ Nghị Viện VNCH
(vnfa)
Inscription à :
Articles (Atom)