mardi 7 août 2007

Bao Giờ Mới Độc Lập?

Bao Giờ Mới Độc Lập?
--------------------------------------------------------------------------------
• Đa Nguyên (Washington DC, 5.8.2007)
Hình bản đồ trên tại web site: http://blog.chinesenewsnet.com/?p=16220


Trên 60 năm trước, Hồ Chí Minh đã tuyên bố Việt Nam độc lập, qua tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nhưng những việc làm mới xẩy ra cho thấy, Hà Nội vẫn chưa thoát khỏi ách nô lệ từ Bắc Kinh.

Không chỉ nô lệ qua việc phải ký hiệp ước sửa biên giới, nhượng đất, nhượng biển cho Trung Quốc.

Không phải chỉ nô lệ qua hành vi khiếp nhược, không dám lên tiếng phản đối, và không dám nói rõ tầu Trung Quốc đã bắn vào ngư dân Việt Nam
.

Ngay tuần lễ vừa qua, Hà Nội đã khiếp nhược đến nỗi không dám cho đoàn chuyên viên y tế trên một chiến hạm Hoa Kỳ thi hành nhiệm vụ nhân đạo, là săn sóc sức khỏe cho bệnh nhận Việt Nam, chỉ vì sợ Trung Quốc bất bình.

Theo một bài báo trên tờ The Straits Times của Singapore ngày 28 tháng 7, do ký giả báo này là Roger Mitton viết từ Việt Nam, một đoàn y tế do Hoa Kỳ dẫn đầu tới giúp bệnh nhận Việt Nam đã không thể thi hành nhiệm vụ, vì vào phút chót, nhà cầm quyền Việt Nam đã ra lệnh giới hạn hoạt động của đoàn, chỉ vì sợ mất lòng Trung Quốc.

Bài báo cho biết: Chiến hạm USS Peleliu của Hoa Kỳ có một ngàn hai trăm thủy thủ, mang theo 300 chuyên viên y tế, ngoài phần lớn là người Hoa Kỳ, còn có nhiều Bác sĩ từ Singapore, Ấn Độ, Mã Lai, Nhật Bản, Nam Hàn, Gia Nã Đại, và Úc. Trước khi ghé Đà Nẵng vào giữa tháng 7, đoàn y tế trên tầu Peleliu đã chữa trị bệnh nhân tại Phi Luật Tân. Tại đó, toán trực thăng Rồng Biển đã chuyên chở bệnh nhân từ đất liền đem lên tầu cho các bác sĩ giải phẫu. Tất cả có 160 ca mổ đã đựơc thực hiện tại hai khu giải phẫu trên tầu.

Nhưng tại Đà Nẵng, nhà cầm quyền Việt Nam đã không cho đoàn y tế thi hành nhiệm vụ nhân đạo tương tự. Họ không cho xử dụng trực thăng chở bệnh nhân, và không cho bệnh nhân Việt Nam được giải phẫu trên tầu Peleliu.

Một bác sĩ Nhật Bản nói với ký giả báo The Straits Times rằng: “ Thật là bực mình vì Bộ Y tế Việt Nam hạn chế việc làm của chúng tôi, không cho chúng tôi được phép giải phẫu”. Một viên chức khác xác nhận họ chỉ được phép cố vấn bằng lời nói, và trao đổi quan điểm với các đồng nghiệp người Việt. Bài báo cho biết tiếp là, sở dĩ có vụ cấm đoán vào phút chót này, vì Việt Nam sợ Trung Quốc buồn lòng. Tác giả bài báo thuật lại lời của một chuyên gia về Việt Nam tại Viện quốc phòng Úc là Giáo sư Carlyle Thayer nói rằng: “Tất cả mọi hợp tác dính dáng tới quốc phòng với Hoa Kỳ đều được Việt Nam nhìn qua lăng kính là nó sẽ có ảnh hưởng như thế nào trong liên hệ với Bắc Kinh”.

Ký giả báo The Straits Times cho biết tiếp là một nguồn tin từ đảng cầm quyền biết rõ nội vụ nói rằng: “Chúng tôi muốn để cho đoàn y tế trên tầu Mỹ hoạt động theo ý họ, nhưng chúng tội phải hạn chế, vì sợ Bắc Kinh không hài lòng”. Rút cục, thay vì giải phẫu để chữa trị các căn bệnh hiểm nghèo, đoàn y tế đã chỉ có thể chẩn bệnh được khoảng hai ngàn ba trăm bệnh nhân. Chỉ vì thái độ sợ hãi quá mức của nhà cầm quyền Việt Nam đối với phương Bắc, mà biết bao bệnh nhân Việt Nam đã mất cơ hội bằng vàng để được chữa trị, hay được cứu mạng.

Vẫn theo tác giả bài báo, ông Michael Marine, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cũng có mặt trên tầu Peleliu đã tuyên bố là ông chia sẻ sự thất vọng tới một mức độ nào đó, vì nếu được phép làm tất cả mọi dịch vụ, chắc là mọi việc đã đạt kết quả. Và nhà ngoại giao chuyên nghiệp sắp mãn nhiệm này đã kết luận bằng một câu rất ngoại giao, là: “Tôi cũng rất vui về những gì chúng tôi đã có thể làm được”.

Ngay một công tác nhân đạo để giúp những người dân bệnh tật, mà Hà Nội cũng không dám cho làm, chỉ vì sợ mất lòng quan thầy Trung Quốc.

Chỉ còn đúng bốn tuần nữa là tới ngày mừng lễ kỷ niệm tuyên ngôn độc lập, ra đời từ sáu mươi hai năm trước. Nhưng bao giờ Việt Nam mới thực sự độc lập?

lundi 6 août 2007

Thử ngắm mình trong gương! - Việt-Nhân

Tại các nước Tây Phương nhất là tại Hoa Kỳ, mỗi lần chào mừng năm mới Dương Lịch, người địa phương thường cố gắng nồi tiếp một tập quán văn minh rất đáng ca ngợi. Ấy là việc "xét lại" nếp sống thường nhật vừa qua của họ, rồi âm thầm chọn ngay lấy một mục tiêu nào đó - cố nhiên là mục tiêu tốt đẹp - để theo đuổi suốt trong năm tới.


Người Việt ta trái lại, thường đón Xuân Âm Lịch bằng cách nói thật nhiều về Xuân, về Tết, về con vật làm chủ năm mới, và về mọi thứ tập tục cổ truyền của cha ông thủa xưa. bất luận tốt hay xấu, bất luận hữu ích hay đã lỗi thời; mà tuyệt nhiên không bao giờ nghĩ tới việc lợi dụng chút thời giờ nhàn rỗi buổi đầu Xuân để tự xét lấy tâm tính hạnh kiểm mình, hầu ấn định một số "nghị quyết"(resolution) : sửa đổi và thăng tiến. Điều này có nghĩa là ta thực sự "ăn tết" theo cái nề nếp ăn uống ruợu chè hưởng thụ, vui chơi thỏa thích tời mức tối đa. Rồi cuộc đời lại vẫn đâu vào đó mà thôi chẳng có gì thay đổi cả.
Thiết nghĩ riêng cộng đồng người Việt lưu vong chúng ta - qua bao năm chung đụng với ngoại nhân - nên thử bắt chước họ một lần, nhân dịp mừng Xuân Bính Tuất này xem sao. Nghĩa là ta hãy tự soi bóng mình trong gương để xem ta có những ưu điểm nào nên gìn giữ để truyền thụ cho hậu thế, và những khuyết điểm nào nên đạp đổ ngay bây giờ, nhằm cải thiện bản thân ta, tức cũng là cải thiện "con người Việt-Nam" nói chung vậy.
Trước hết, ta thấy lớp người lớn tuổi, có óc bảo thủ bất di dịch, luôn luôn tự hào là Việt-Nam ta có "bốn nghìn năm văn hiến", vốn giòng dõi "Con Rồng cháu Tiên" có nhiều đức tính tốt đẹp hơn nhiều dân tộc khác tại Á Châu. Sự tuyên dương có tính cách máy móc này có lẽ, tự nó, đã là một đức tính quý báu rồi. Dân nước nào mà chả tự hào về nguồn gốc của họ? Dân Phù Tang tự coi họ là con cháu Thái Dương thần Nữ. Dân Trung Hoa tự xem mình là cái rốn của vụ trụ. Dân Nhật Nhĩ Man cũng bao phen hống hách chọn ngồi cao nhất "trên đầu" tất cả các nòi giống khác từ khắp Âu sang Á. Chả ai hoài công đi tranh cãi với họ làm gì. Nay ta hãy quay về với chuyện nhà của ta, với lập thuyết cho rằng nòi giống ta có nhiều đức tính hơn thiên hạ.
Đúng chăng? Và nếu đúng vậy, thì ta có nên tự vấn xem tại sao Việt-Nam:

- bị lệ thuộc nước Tầu trên dưới ngàn năm?

- bị thực dân Pháp đô hộ gần một trăm năm?

- bị quân phiệt dầy xéo năm năm? Và sau hết,

- bị lũ Việt Gian tôi mọ Nga Tầu tàn hại 60 năm qua - tính cho tới lúc này - mà ta vẫn chưa đạp đổ được?

Trong bầy nhiêu mối quốc hoạ thảm sầu chồng chất đó, ắt thế nào cũng có một lý do hoặc nhiều lý do chính đáng, mà ta không chịu để tâm nghiên cứu, hoặc là ta cố ý làm ngơ đi đó thôi. Nay ta hãy lấy hết can đảm và liêm trực để nhìn thẳng vào thực tế, khác nào ông thầy thuốc bắt buộc vì nghề nghiệp và lương tâm phải nhìn thẳng vào bệnh trạng bệnh nhân, trước khi quyết định chữa trị.
Hơn bao giờ hết, đây chính là lúc chúng ta hãy thành thực với chính mình, hãy "tiên trách kỷ, hậu trách nhân" , hãy đào bới các hành vi hạnh kiểm mình cho tới chỗ sâu hiểm tận cùng của nó, thì mới mong tìm được giải đáp cho các câu hỏi trên.
Người ngoại quốc, nếu mà có khả năng theo dõi được đều đặn các câu chuyện trao đổi thường nhật của người Việt-Nam ta, ắt không khỏi ngạc nhiên tự hỏi duyên cớ nào khiến chúng ta luôn luôn nhắc nhở đến hai chữ "ĐOẢN KẾT".

Chẳng hạn: Tại sao? Tại sao văn chương ta đầy dẫy những câu kêu gào đoàn kết? Nào là:

"Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng"

"Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"

"Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau"

"Đoàn kết là sống chia rẽ là chết" (lời ông Bảo Đại tuyên bố khi thoái vị) v.v….

1.- Không còn hồ nghi gì nữa. Sở dĩ người Việt đời đời kiếp kiếp kêu van "Đoàn Kết" nhưng chẳng bao giờ tìm thấy nó ở đâu cả, ấy chỉ vì người Việt đã "hơn" thiên hạ ở chỗ... không bao giờ biết đoàn kết và sẽ mãi không bao giờ chịu đoàn kết với nhau dù trong bất cứ trường hợp nào, kể cả trường hợp "Vong gia thất thổ" đang hiển hiện trước mắt. Tán gia bại sản vì quân thù địch, vì lũ Việt Gian Cộng Sản cướp biển, đất đem dâng cho ngoại bang.
Có thể nói một cách thẳng thắn rằng sự "thiếu vắng đoàn kết" - mang cái đặc tính "di truyền" hết sức quái lạ - giữa người Việt-Nam với nhau, đã là một trong những nguyên nhân trọng hệ đưa đến tình trạng lưu vong tập thể ngày nay.




2.- Nguyên nhân thứ hai là tấm lòng thờ ơ lãnh đạm, là thái độ tiêu cực bất cần, của đại đa số nhân dân Việt-Nam trước đời sống chính trị của đất nước. Đây là một khuyết điểm to tát mà ta cần tự mình soi sét để chấn chỉnh lại. Chúng ta có thói quen bỏ mặc việc nước nhà ( hay hay dở, tốt hay xấu) cho những kẻ khôn lanh xảo quyệt dùng thủ đoạn cướp lấy quyền lãnh đạo quốc gia một cách quá dễ dàng, như cướp một nải chuối, buồng cau phía sau vườn nhà ta vậy. Dẫu có bất bình chăng, thì bất quá cũng chỉ biết ngồi chửi đổng một mình trong bóng tối, chứ chẳng có cá nhân nào nẩy ra được sáng kiến sách động một phong trào quần chúng đấu tranh cả. Rồi vì tính nết lười biếng cố hữu của mỗi người, hoặc vì tinh thần cầu an lo sợ bất trắc, gian nan, tù tội, kẻ nọ nhìn người kia không thấy động tĩnh gì, bèn giữ thái độ im lặng chịu đựng cái hoàn cảnh bị đè nén bóc lột. Ấy thế là bọn cuờng quyền, bọn tham ô, bọn mãi quốc cầu vinh, cảm thấy yên ổn, cứ việc hành động theo ý muốn, chẳng còn biết sợ hãi ai nữa cả.

3.- Nguyên nhân thứ ba còn tai hại hơn nhiều, mà lại là nguyên nhân rất khó cho người có tâm huyết đối phó hữu hiệu. Ấy là sự nhẹ dạ cả tin, sự thơ ngây quá đáng đồng nghĩa với "ngoan cố", là cái xu hướng đồng loã với kẻ thù, với bọn cầm quyền áp bức, mà càng ngày ta càng bắt gặp trong đại đa số quần chúng. Dễ thấy hơn hết là quần chúng lưu vong hải ngoại hiện nay.
Không cần dài dòng, cứ theo lẽ phải mà xét, thì người nào đã bỏ nước ra đi mà được các nước có lòng nhân đạo xếp vào hàng "tị nạn Cộng sản , nhất thiết không thể nào quay lại sống chung với chế độ mà mình đã ghê tởm xa lánh. Ấy thế mà lạ lùng thay, khi tập đoàn CS trong nước mở ra chiến dịch gọi là "Về thăm quê hương" ( theo Nghị Quyết 36 của chúng) với trăm nghìn thủ đoạn đê tiện dấu kín bên trong, thì lại thấy lắm kẻ mệnh danh "tị nạn" , "cựu tù nhân chính trị /HO" ùn ùn kéo nhau lấy chiêu bài "nhớ quê hương", về hưởng lạc, mang "áo gấm về làng", khoe khoang làm giầu cho chế độ CS, nuôi sống chúng bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình, bất chấp mọi lời khuyên răn sáng sủa hợp lý của các tổ chức đấu tranh chống cộng ở hải ngoại này!
Có một điều quái gở mà ta không sao hiểu nổi, ấy là hầu hết, nếu không nói tất cả - những kẻ tham gia chiến dịch "về thăm quê hương" kia đều là nạn nhân thực thụ của chế độ CSVN, đã từng nếm mùi tù tội nghiệt ngã một thời gian, đã có cha mẹ, hoặc anh em, họ hàng ruột thịt bị CS sát hại năm xưa một cách dã man tàn ác! Ta không hiểu nổi hạng người này, vì lời nói chính nghĩa đã bị gác ngoài tai, vì kẻ trong cuộc đã quá mê muội, quá ngây thơ tin tưởng nơi lời đường mật của kẻ thù tới trình độ sẵn sàng nắm lấy bàn tay chúng mà chẳng biết gớm tay mình!
Đối với kẻ thiếu hiểu biết chính trị đã đành đi một nhẽ. Nhưng với các phần tử mệnh danh "trí thức" mà lại cũng vênh váo nhẩy vào vòng tay đồi phương không chút hổ thẹn, ôm ấp chúng mạnh hơn, thì ta biết nói sao đây? Phải chăng dân tộc Việt-Nam, nếu bảo là dân tộc có nhiều đức tính hơn môi dân tộc láng giềng chung quanh, hẳn là đã mắc phải mặc cảm tự tôn sai lầm rồi.
Trên đây mới chỉ là vài ba khuyết điểm trên "bình diện chủng tộc" của người Việt-Nam chúng ta, những khuyết điểm đóng góp khá nhiều vào tình trạng điêu linh nó cứ tiếp diễn từ ngàn năm trước cho tới nay. Còn nhiều và thật nhiều những thoái tật xấu xa khác mà chúng ta đã không thẳng thắn mà nhìn nhận để sửa chữa . Trái lại chúng ta còn khư khư ôm chặt lấy nó rồi lại quay ra than trời trách đất rằng sao nòi giống ta luôn luôn chịu trầm luân khổ ải.
Đã tới lúc chúng ta phải cương cường thừa nhận việc chúng ta "không đoàn kết" chứ không phải là "thiếu đoàn kết". Bởi lẽ chúng ta có "đoàn kết" bao giờ đâu mà bảo là "thiếu hay thừa". Vì không đoàn kết nên khó xây dựng được tinh thần cộng đồng, nên phải sống trong tình trạng hỗn loạn, vô kỷ cương, vô trật tự xã hội - dù là xã hội lưu vong. Kẻ thù còn mong đợi gì hơn nữa mà không múa hát trước nếp sống rã nát của chúng ta?
Đã nói thì phải nói cho tới cùng. Ta không biết hợp quần trước đại nạn. Ta thờ ơ với quốc sự khiến cả một chế độ sụp đổ. Ta còn để cho đồng bào ta ngây thơ tin tưởng vào việc làm xảo quyệt của kẻ thù chung ngay giữa lúc ao bèo đã cạn gốc. Tất cả đều là hậu quả của một quá khứ chểnh mảng, một quá khứ mà người có trách nhiệm không hề để tâm vun quén cho một nền giao dục thích nghi với đất nước. Chúng tôi muốn nói tới một nền "giáo dục tinh thần" chứ không nói tới một nền học vấn đơn thuần. Dân tộc ta phải được rèn đúc cho có một căn bản đạo đức vững chắc để có thể phân biệt được ngay Chính với Tà, để không bị lừa gạt mà mang lấy họa.
Việt-Nhân.

anh duong

१- Sư Thật về Cuộc Tổng Khởi Nghĩa 19 – 8 – 1945 tại Việt Nam - Phan Đức मिन्ह

Sư Thật về Cuộc Tổng Khởi Nghĩa 19 – 8 – 1945 tại Việt Nam - Phan Đức Minh

1/2

Viết bài này, chúng tôi mong uớc có dịp nói chuyện tâm tình với các bạn trẻ Việt Nam ở hải ngoại, là những người, vì nhiều lý do, không có dịp biết nhiều về lịch sử Việt Nam. Nhất là lúc này môn học “ Văn Học & Lịch Sử Việt Nam “ đã được giảng dậy tại nhiều Trường Đại Học của Hoa Kỳ, trong lúc Cộng Đồng người Việt định cư tại Mỹ ngày càng lớn mạnh, trưởng thành, có nhiều nhân vật nam, nữ gốc Việt tham gia vào những hoạt động Chính Trị, Tư Pháp,Văn Hóa, Kinh Tế, Khoa Học trong chính quyền cũng như xã hội Mỹ, ở những vị trí quan trọng. Đôi khi cần, chúng tôi xin phép ghi chú thêm bằng Anh Ngữ để các bạn trẻ dễ nhận rõ những sự việc đã xẩy ra trong Lịch Sử dân tộc của chúng ta.


1.- Việt Nam trước 19 tháng 8 - 1945 :

* Đi theo đường lối, chính sách cuả hai triều Vua tiền nhiệm : Các Vua Minh Mệnh và Thiệu Trị cuả nhà Nguyễn, Vua Tự Đức không chấp nhận mọi việc liên lạc, giao thiệp với các quốc gia khác, dù chỉ là trên căn bản thương mại mà thôi.

* Các chính phủ Anh, Pháp, Tây Ban Nha lúc đó đang trên đường đi tìm kiếm thuộc địa hầu đáp ứng đà phát triển cuả nền công kỹ nghệ trong nuớc về tài nguyên, nhân công, thị trường tiêu thụ vv… cho nên đã giúp đỡ cho nhiều tầu buôn cuả tư bản nuớc mình, mang theo giấy giới thiệu để xin vào Việt Nam liên lạc buôn bán làm ăn. Vua Tự Đức thẳng tay chối từ, không chấp nhận.

* Cũng trong thời gian này, các vị Giáo Sĩ từ Âu Châu tới Á Châu cũng như Việt Nam để truyền bá Đạo Thiên Chuá. Vua Tự Đức ban hành Dụ cấm đạo : người ngoại quốc vào Việt Nam giảng đạo sẽ bị tử hình, các Linh Mục Việt Nam không chịu bỏ đạo sẽ bị khắc chữ vào mặt và bị đưa đi các trại giam ở vùng núi rừng hiểm độc. Phải đối phó với càc vụ nổi loạn cuả các lực lựợng còn hoài vọng Nhà Lê, chống lại triều đình Nhà Nguyễn, lại thấy các Giáo Sĩ Tây Phương vào truyền đạo ngày một lan rộng, trái với chính sách cuả triều đình lúc đó là “ Tuyệt đối không liên lạc, giao thiệp với nuớc ngoài duới mọi hình thức “ , Vua Tự Đức ban hành thêm Sắc Dụ ngày 21 - 3 - 1851, trong đó có nói : xử tử hình tất cả các Giáo Sĩ Tây Phương cũng như Việt Nam trên toàn lãnh thổ đất nước. Các giáo dân bị coi là đồng loã với quân phản nghịch ngoại quốc nên cũng chịu chung hình phạt. Ngày 1 - 5 - 1851, Giáo Sĩ Augustin Schoeffler bị chém đầu ở Sơn Tây. Năm sau , Giáo Si Jean Louis Bonnard bị chém đầu cùng với nhiều giáo dân ở ngoài Bắc...

* Chính phủ Pháp- đang cần có thêm nhiều thuộc địa ( Colonies ), nhân dịp này, tạo cơ hội để đưa quân vào đánh chiếm Việt Nam. Đánh chiếm Gia Định trong Nam. Sau đó chiếm Đà Nẵng năm 1858. Năm 1867, Nam Bộ trở thành nhượng địa, trực tiếp cai trị bởi chính phủ Pháp . Năm 1875, quân Pháp đánh chiếm Thành Hà Nội. Năm 1884, tất cả phần còn lại cuả đất nuớc Việt Nam bị đặt dưới sự bảo hộ cuả nuớc Pháp ( 1884 : French protectorate imposed over the rest of the country ).




Người Pháp cai trị Việt Nam :

* Năm 1897, ông Doumer làm Toàn Quyền Đông Dương ( Governor General of Indochina- Viết dựa theo gốc chữ Pháp : Gouverneur Général, chớ không viết General Governor ) , đặt ra các thứ thuế đinh, điền, thổ trạch, muối, thuốc phiện, xuất nhập cảng. Trong thời gian này, nền nông nghiệp, công kỹ nghệ tại Việt Nam được mở mang, canh tân, phát triển, đường xá, cầu cống được xây dựng. Năm 1902, Ông Beau thay ông Doumer trong chức vụ nói trên, thiết lập chuơng trình dậy học dựa theo kiểu cuả người Pháp. Pháp ngữ là ngôn ngữ chính được dùng trong các truờng học lớn nhỏ, thay thế cho nền nho học chịu ảnh hưởng cuảTrung Quốc. Các cơ sở bưu điện, y tế được xây dựng vv… Bộ mặt bên ngoài cuả đời sống xã hội Việt Nam quả thực có nhiều thay đổi tiến bộ, Tuy nhiên, ï người Pháp tới Việt Nam, một thuộc địa tốt nhất về nhiều mặt so với các thuộc địa cuả Pháp đã có lúc bấy giờ, không phải vì lòng tốt, giúp cho dân tộc Việt Nam tiến bộ, phát triển với “ Tinh thần tương trợ quốc tế - Spirit of International Mutuality ) như trong các sinh hoạt cuả cộng đồng quốc tế ngày nay. Những công trình mở mang, phát triển lúc đó trên lãnh thổ Việt Nam, chính yếu là thúc đẩy Việt Nam theo kịp với nhu cầu đòi hỏi cuả người Pháp trong việc khai thác thuộc địa, phục vụ cho sự phát triển cuả nền kinh tế tại Pháp Quốc đang được kỹ nghệ hoá (industrialized) một cách mạnh mẽ trong nội địa cũng như trên “ thương trường quốc tế - International market “.


* Người Pháp cũng cứng rắn dập tắt mọi sự chống đối đưa đến “ nỗi loạn, khởi nghiã – Revolt, rising up in arms “ cuả dân bản xứ. Người Pháp không quên đào tạo lớp người bản xứ được hưởng khá nhiều quyền lợi, để tiếp tay với họ cai trị thuộc điạ này. Sự căm hờn, uất ức cuả giới trí thức, lớp người hiểu biết, có tinh thần quốc gia, yêu nước, thương xót dân tộc cứ càng ngày càng âm ỉ rồi lớn mạnh dần lên.

* Cụ Phan Tây Hồ đã gửi cho nhà cầm quyền Pháp 1 bức thư, nói: “Chính phủ nên chọn hiền tài, trao quyền hành cho họ, lấy lễ mà mà tiếp, lấy thành mà đãi, nới rộng quyền ngôn luận cho các nhân sĩ, báo chí để thông đạt tình dân, thưởng phạt nghiêm minh, kiểm soát quan lại tránh cho dân những điều bất công, oan trái, sưả đổi luật pháp, giảm bớt sưu thuế ,khuyếch trương công nghệ thì sĩ dân sẽ vui lòng giúp chính phủ. Lúc ấy sẽ không còn ai lo toan tính đến việc chống lại chính phủ nưã...” Người Pháp khi nào chịu nghe những lời khuyến cáo cuả Cụ Phan-Tây-Hồ cũng như gạt bỏ lý thyết “ Pháp-Việt đề huề – French- Vietnamese Concord “ do Cụ Phan Bội Châu đưa ra để thực hiện một cuộc “Sống chung “ trong an bình vui vẻ giưã chính phủ cai trị và dân chúng bản xứ.

3.- Những cuộc chống đối cuả tầng lớp trí thức mới :

Ở đây, vì khuôn khổ hạn hẹp, chúng tôi chỉ nêu lên những vụ tiêu biểu, điển hình nhất mà thôi.

* Cụ Phan-Bội-Châu vận động cho phong trào Cách Mạng chống Pháp, nhờ sự giúp đỡ cuả Trung Hoa và Nhật Bản lúc đó. Cụ bị bắt năm 1925 tại Thượng Hải rồi bị dẫn về Việt Nam trị tội. Do sự phản kháng cuả dân chúng trong nước lên cao dữ dội nên người Pháp không dám quyết liệt hạ thủ Cụ Phan, mà chỉ liên lạc với Nhật Bản trục xuất Cụ.

* Năm 1917, Ông Lương-Ngọc-Quyến từ Nhật Bản về Việt Nam gây dựng lực lượng đấu tranh chống Pháp, nhưng Ông đã bị mật thám Anh ( British secret police ) bắt tại Hương Cảng rồi giao lại cho Pháp vì lúc đó Anh và Pháp là những “ Đế quốc – Imperialist nations “ đang cai trị nhiều thuộc địa trên thế giới, có quyền lợi chính sách giống nhau nên là bạn đồng minh với nhau. Ông Quyến bị giam vào nhà tù ở Tỉnh Thái Nguyên, miền thượng du Bắc Việt.

* Ít lâu sau, Ông Đội Cấn chỉ huy cuộc khởi nghiã chống Pháp nhưng sức yếu nên bị quân đội Pháp dẹp tan trong vài tháng.

* Sau Thế chiến thứ I, năm 1919, một Hội Nghị Hòa Bình được tổ chức tại Versailles ở Pháp, một nhóm nhân vật dấu tranh cho Độc Lập của Việt Nam đang cư trú tại Thủ Đô Paris, trong đó có Nguyễn Ái Quốc ( Nguyen, the Patriot ), tức Hồ Chí Minh, cán bộ Cộng Sản Quốc tế và lãnh tụ cộng sản Việt Nam sau này, soạn thảo một chương trình 8 điểm cho cuộc đấu tranh giành Độc Lập cho Việt Nam và gửi tới Hội Nghị Hòa Bình nói trên. Nguyễn Ái Quốc tìm gặp Tổng Thống Mỹ Woodrow Wilson ( 1856- 1924, vị Tổng Thống thứ 28 của Mỹ, 2 nhiệm kỳ, và được coi là 1 trong những vị Tổng Thống vĩ đại của Hoa Kỳ ) để yêu cầu ủng hộ cho chương trình 8 điểm nói trên, nhưng vị Tổng Thống Mỹ lại muốn Việt Nam đi đến Độc Lập theo chương trình 14 điểm của Ông dành cho tất cả các dân tộc trên thế giới đang bị cai trị bởi một quốc gia khác. Mỹ chống đối chính sách thuộc địa. Thế là mộng ước của Nguyễn Ái Quốc không thành.

* Năm 1923, một thanh niên Việt nam yêu nước, Phạm Hồng Thái , đã cho nổ bom mưu sát viên Toàn Quyền Đông Dương lúc đó là Martial Merlin, đi công cán ở Nhậït Bản rồi về Sa-Điện, thuộc Quảng Châu, Trung Hoa. Merlin thoát chết, nhưng một số người Pháp, tổ chức tiệc tùng đón tiếp, bị chết và bị thương. Chiến sĩ Phạm Hồng Thái đã nhẩy xuống sông để tự sát, không cho Pháp bắt và khai thác lấy tài liệu, tin tức. Tinh thần chống chính quyền cai trị cuả thực dân Pháp (French colonialits ) càng dâng cao như bão nổi ở Việt Nam. * Năm 1925, Vua Bảo-Đại lên ngôi lúc 12 tuổi. Sau đó sang Pháp tiếp tục con đường học vấn.

* Tại Quảng Đông, Trung Hoa, Nguyễn Ái Quốc thành lập “ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội - The Revolutionary Youth League of Vietnam ), tổ chức nòng cốt đầu tiên của Phong Trào Cộng Sản quốc tế ở Đông Dương ( the first truly Marxist organization in Indochina ), với mục đích cộng sản hóa toàn thể vùng này ( Vietnam, Laos & Cambodia ). Một Chi Bộ ( Party cell ) được đưa về Việt Nam gây dựng cơ sở và lực lượng chống Pháp, tạo chính nghĩa ( Just cause ) cho cuộc đấu tranh lâu dài. Cũng thời gian đó Việt Nam Quốc Dân Đảng ( The Vietnam Nationalist Party ) được thành lập với đường lối chủ trương đối lập hẳn với tổ chức cộng sản nói trên.

* Năm 1929, thấy thời cơ đã thuận lợi, Nguyễn-Ái-Quốc - người đã được đào tạo, huấn luyện rất thuần thục về mọi chiến thuật, chiến lược đấu tranh ( struggling tactics & strategies ) tại Nga Sô , đổi tên “ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội “ thành “ Đông Dương Cộng Sản Đảng – Indochinese Communist Party “ để ra mặt hoạt động , đấu tranh theo đường lối, chính sách của phong trào cộng sản toàn cầu.

* Năm 1930, Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học, lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng khởi nghiã vũ trang chống Pháp tại Tỉnh Yên Bái, miền thượng du Bắc Việt vào ngày 10 tháng 2, nhưng thất bại vì lực lượng không cân xứng, lực lượng quân đội Pháp được trang bị vũ khí tối tân và mạnh hơn gấp nhiều lần. Lãnh Tụ Nguyễn Thái Học cùng các nhân vật lãnh đạo cuả Đảng , 13 người, bị bắt và bị xử tử: chặt đầu bằng máy chém ( Guillotine ) ngày 17 – 6 – 1930. Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí bình thản, hiên ngang bước lên máy chém, không chút sợ hãi. Nguyễn Thái Học còn để lại cho hậu thế câu nói bất hủ “ Không thành công thì cũng thành nhân “. Ông muốn nói: không đạt được mục tiêu của đại cuộc thì ít nhất cũng xứng đáng làm một người con yêu nước của Tổ Quốc Việt Nam.

Sư Thật về Cuộc Tổng Khởi Nghĩa 19 – 8 – 1945 tại Việt Nam - Phan Đức Minh

Sư Thật về Cuộc Tổng Khởi Nghĩa 19 – 8 – 1945 tại Việt Nam - Phan Đức Minh
2/2

1932, Vua Bảo Đại từ Pháp trở về nước để thực sự điều hành việc nước với hi vọng người Pháp sẽ giúp Ông cai trị đất nước một cách tốt hơn, nhưng người Pháp phải bảo vệ quyền lợi của nước Pháp trước hết. Do đó ông Bảo Đại cũng chẳng làm gì được gì cho Đất Nước như Ông muốn, trong khi các tổ chức đấu tranh chống Pháp ngày một lan rộng, mạnh mẽ hơn bao giờ, làm cho Ông Bảo Đại càng thêm lúng túng, nhận rõ là mình không có thực quyền. * Năm 1937, Mặt Trận Bình Dân (Popular Front ) lên cầm quyền tại Pháp, chính sách của Pháp đối với các thuộc địa có nhiều thay đổi, dễ chịu hơn cho nên ở Việt Nam, các nhà lãnh đạo Cách Mạng các Đảng Phái công khai đứng lên tổ chức ra Đông Dương Đại Hội Nghị, tập trung sức mạnh, yêu cầu chính phủ Pháp cải cách chính sách cai trị và phóng thích các tù nhân chính trị. Trước sức mạnh đó, chính phủ Pháp nhượng bộ, chấp nhận phần lớn các đòi hỏi của lực lượng đấu tranh tại Việt Nam. * Năm 1940, Thế Chiến thứ 2 bùng nổ và lan tràn dữ dội, quân đội Nhật Bản tiến vào Việt Nam, thế đứng của Pháp bị đe dọa nên Phục Quốc Quân ( Reconquering troops) Việt Nam khởi binh đánh Pháp ở nhiều nơi tại miền thượng du Bắc Việt, dựa lưng vào Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

Khoảng thời gian này là cơ hội thúc đẩy phong trào Cách Mạng tại Việt Nam bùng lên, nhằm giành quyền Độc lập, Tự Do cho quốc gia, dân tộc.

* Ngày 10 -5 -1941 : Sau cuộc Hội Nghị Đảng Cộng Sản tại Pác Bó, là Trung Tâm Chỉ Huy của Nguyễn Ái Quốc, ở miền cực Bắc Việt Nam, “ Mặt Trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh- Vietnam Independence League “ gọi tắt là “Việt-Minh “ được thành lập, nhằm lôi cuốn các lực lượng quốc gia chống Pháp riêng rẽ khó thành công, kết hợp lại thành một lực lượng lớn mạnh có tổ chức chặt chẽ, nhưng dưới sự lãnh đạo chính yếu là của Nguyễn Ái Quốc. Họ Nguyễn ra lệnh cho Võ Nguyên Giáp thành lập lực lượng võ trang, tổ chức chiến tranh du kích , nhằm vào những nơi yếu kém của quân Pháp mà đánh. Điều này chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng Sản có Sách-Lược (Policy & Strategy ) đấu tranh khôn khéo và hữu hiệu hơn nhiều tổ chức đấu tranh quốc gia khác cũng trong giai đoạn này.

Sau đó (1942 ), Nguyễn Ái Quốc sang gặp Lãnh Tụ của Trung Hoa, là Tưởng Giới Thạch ( Chiang Kai-shek ) xin giúp đỡ phương tiện, nói là để cùng với Trung Hoa chống Nhật Bản, nhưng chính yếu là phát triển lực lượng võ trang của cộng sản. Tưởng Giới Thạch đã có chính sách cho Việt Nam, lại biết rõ Nguyễn Ái Quốc là cộng sản nên cho người bắt giam 13 tháng. Lúc này, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội ( The Vietnam Revolutionary League ), được thành lập với sự giúp dỡ mọi mặt của Tưởng Giới Thạch để chống Nhật ở Việt Nam và sau này, khi Đồng Minh đánh bại Nhật Bản thì tổ chức này sẽ kết hợp với các lực lượng không cộng sản giành chính quyền tại Việt Nam. Đồng Minh Hội không thành công trong sứ mạng được giao phó nên Nguyễn Ái Quốc thuyết phục chính quyền Tưởng Giới Thạch là sẽ chống Nhật theo đường lối của Họ Tưởng. Vì nhu cầu chống Nhật, Nguyễn Ái Quốc được thả và trở về Việt Nam, tiếp tục lãnh đạo lực lượng cộng sản đấu tranh không theo đường lối của Họ Tưởng mà theo đường lối của chính mình, với cái tên mới Hồ Chí Minh ( Ho, the Enlightened One ) nằm trong phong trào cộng sản quốc tế. Vì Họ Hồ chống Nhật thực sự tại Việt Nam cho nên Ông ta đã nhận được sự giúp đỡ của Trung Hoa và cả Hoa Kỳ qua cơ quan OSS (tiền thân của CIA sau này ) để cầm chân quân đội Nhật Bản tại vùng này theo ý muốn của phe Đồng Minh. Trong lúc này, Hồ Chí Minh bí mật ra lệnh cho Võ Nguyên Giáp dùng lực lượng nhân dân vũ trang ngày càng phát triển, tiêu diệt luôn cả các lực lượng quốc gia ( Nationalist forces ) để mưu toan độc chiếm chính quyền khi Nhật Bản bị Đồng Minh đánh bại. * Ngày 22 - 12 - 1944: Theo lệnh của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp thành lập Trung Đội Võ Trang Tuyên Truyền ( Armed propaganda section ) gồm 34 người, làm Lễ Tuyên Thệ xuất quân tại xã Tân Trào, và chỉ 2 ngày sau, tấn công đánh chiếm vài đồn binh của Pháp ở Bắc Việt Nam, lúc đó tinh thần đã suy sụp , gây tiếng vang và phát triển lực lượng võ trang bằng cách “ lấy súng địch tiêu diệt địch “. Kế hoạch này của con cáo già Nguyễn Ái Quốc đã thành công rõ ràng.

4.- Cuộc đảo chính ngày 9 - 3 - 1945 : Thế chiến thứ 2 bùng nổ là thời cơ thuận lợi cho các nước thuộc địa trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nổi lên giành Độc Lập và Tự Do vì chính quyền của các nước cai trị bị lôi cuốn vào cuộc chiến lớn lao này. Chính quyền cai trị của Pháp tại Việt Nam bị mất liên lạc với chính phủ Pháp ở Âu Châu khi pháo binh ( Artillery ) của phát xít Đức nổ như mưa bão bên bờ sông Rhine/ Rhin - con sông dài nhất ở Âu Châu, chẩy qua 6 quốc gia của lục địa này – khi không quân Nhật Bản oanh kích căn cứ của các quốc gia Đồng Minh (chống phát –xít Đức-Ý-Nhật ) tại Thái Bình Dương (Pacific Ocean ).

Để giữ vững chính quyền, thực dân Pháp ra sức bắt bớ tù đầy các chính trị phạm và thẳng tay đàn áp các phong trào đấu tranh, khởi nghĩa. Tuy nhiên các phong trào đấu tranh nổi dậy vẫn không ngừng bùng lên. Ở Nam Bộ, Lê Hồng Phong và vợ là Nguyễn Thị Minh Khai , cấp lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, sau Hồø Chí Minh, vận động, hô hào dân chúng khởi nghĩa, giành chính quyền. Ở Thượng Du Bắc Việt, Ông Đội Cung chỉ huy quân đội Bảo-An ( của Pháp ) chiếm Đồn Binh tại Đô Lương. Phục Quốc Quân do Thủ Lãnh Trần Trung Lập chỉ huy, từ đất Trung Hoa kéo về đánh chiếm Tỉnh Lạng Sơn. Tình hình càng thêm rối ren, hỗn loạn. Dân chúng Việt Nam phải chịu chung sự khổ sở cùng cực do quân phát xít Nhật gây ra và sự đàn áp tàn bạo của chính quyền Pháp cai trị. Bao nhiêu lúa gạo để sống đều bị quân Nhật thu vét để ăn, quân Pháp thu vét lập kho dự trữ chờ ngày quân Đồng Minh đổ bộ vào Việt Nam. Cả Nhật lẫn Pháp đều dùng mọi cách triệt nguồn sống của dân chúng Việt Nam, nhằm tiêu diệt sức đề kháng, nổi dậy chống quân xâm lược. Ruộng đất sản xuất lúa gạo bị trưng dụng ( requisitioned ) để trồng các các loại cây: bông, gai, thầu dầu vv... cung ứng cho nhu cầu chiến tranh của Nhật. Quan lại nhân dịp “Đục nước thả câu - Fishing in troubled waters “ tha hồ vơ vét, dân chúng vô cùng căm hờn, bất mãn cơ hồ không còn chịu nổi. Thêm vào đó , một nạn đói vô tiền khoáng hậu ( Unparalleled Famine ) xẩy ra khắp nơi tại Bắc và miền Trung Việt Nam, làm chết gần 2 triệu người, xác chết nằm rải rác khắp thành thị đến thôn quê, đầu đường, xó chợ, bên vệ đường, có những người sắp chết vẫn còn cố ráng bứt cỏ, cho vào miệng theo phản xạ sinh tồn ( Surviving reflex ), có những trẻ em thơ dại sắp chết vì đói sữa nhưng vẫn còn ôm cứng người Mẹ tìm sữa bú trong lúc người Mẹ đã chết cứng từ lúc nào. Lửa căm thù Nhật-Pháp dâng lên ngùn ngụt.




Sáng ngày 9 - 3 -1945, quân Nhật làm một cuộc đảo chánh, và chỉ trong vòng 24 giờ, toàn thể bộ máy cai trị của Pháp tại Việt Nam hoàn toàn xụp đổ. Người Nhật tung ra khẩu hiệu “ Châu Á của người Á Châu “ để lôi cuốn dân chúng Việt Nam sau 80 năm sống kiếp nô lệ dưới sự cai trị của người da trắng phương Tây. Người Nhật khôn ngoan tìm giải pháp: chính phủ của Người Việt Nam cai trị đất nước Việt Nam, trong lúc Nhật Bản phải lo đối đầu với cuộc Thế Chiến hứa hẹn nhiều trận đánh quyết liệt, khủng khiếp, long trời, lở đất. Chính Phủ Trần Trọng Kim ra đời, gồm nhiều nhân vật có đức, có tài, do Học giả (Scholar ) Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng. Dù thế nào đi nữa cũng là chính phủ của người Việt Nam, nên được sự hoan nghênh nhiệt liệt của dân chúng khắp nước, từ Bắc vào Nam. Chính phủ Trần trọng Kim chọn Quốc Kỳ và Quốc ca cho nước Việt nam mới. Bộ Trưởng Giáo Dục, Giáo Sư Thạc Sĩ Hoàng Xuân Hãn đưa ra ngay 1 chương trình giáo dục mới, hoàn toàn bằng tiếng Việt, mọi công văn giấy tờ của cơ quan công quyền đều bằng tiếng Việt. Bộ trưởng Nội Vụ, Bác Sĩ Trần Đình Nam, tẩy uế bộ máy chính quyền từ trên xuống dưới, loại trừ mọi quan chức tham nhũng, xóa bỏ mọi tàn tích của chế độ thực dân Pháp để lại, mời người tài giỏi ra giúp nước. Giáo Sư Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh Niên, diễn thuyết, kêu gọi dân chúng, thanh niên tuổi trẻ hãy đứng lên xây dựng lại đất nước, phát huy tinh thần yêu nước, đưa Việt Nam tiến lên con đường phồn thịnh và hùng cường. Bầu trời Hà Nội như muốn vỡ tung ra trong những tiếng hô vang, những cánh tay giơ lên, biểu hiện một tinh thần Việt Nam mới, dân tộc Việt nam quyết chí tiến lên vv...

* Trước tình thế này, các Đảng Phái quốc gia hầu hết lại dè đặt, nghe ngóng, dò xét thái độ của người Nhật. Một điều thật đáng tiếc ! Riêng Đảng Cộng Sản, vì tổ chức chặt chẽ hơn, được sự yểm trợ của Quốc Tế Cộng Sản, có cơ sở khắp nơi, được huấn luyện kỹ lưỡng chu đáo, người lãnh đạo lại khôn ngoan, mưu lược, nhiều thủ đoạn đã mau lẹï nắm lấy cơ hội, tăng cường gấp rút các hoạt động công khai cũng như ngấm ngầm, phát triển lực lượng quần chúng ( Masses’ forces ), thành lập các Đoàn Thể chính trị nằm trong Mặt Trận Việt Minh , võ trang thô sơ : gậy gộc, giáo mác, lưỡi lê, dao găm, mã tấu, vài quả lựu đạn, mấy khẩu súng của Tầu, của Tây sử dụng từ hồi Thế Chiến thứ I, liên tục biểu tình, đấu tranh với khẩu hiệu “ Đánh Pháp, đuổi Nhật “, đáp ứng đúng với tâm lý quần chúng đang căm thù Nhật-Pháp. Họ chặn bắt các tầu buôn chuyên chở thực phẩm, dầu ăn, dầu thắp sáng, vật dụng hàng ngày vv... lưu thông trên các sông lớn, nhất là ở Miền Bắc, rồi dùng loa kêu gọi dân chúng quanh vùng, tự do đến lấy thoải mái đem về mà ăn, mà dùng.Trong lúc đang thiếu đói cùng cực mà được như vậy thì dân nào mà chẳng theo ? Cộng sản khôn ngoan, mưu lược, thủ đoạn như thế cho nên đã chinh phục được khối dân chúng đông đảo, không những bằng cách khích động lòng yêu nước, đánh Tây, đuổi Nhật, giải phóng dân tộc mà còn qua con đường “ lãnh đạo bao tử quần chúng “ nữa. Người dân lúc đó đại đa số không cần biết cộng sản là cái gì, họ chỉ cần được no cơm, ấm áo, không bị áp bức, bóc lột. thoát cảnh nô lệ của Pháp, của Nhật mà thôi.



* Nhật bắt buộc phải đầu hàng vô điều kiện ( unconditionally surrendered ) trước lực lượng Đồng Minh ngày 13 -8 -1945, sau khi 2 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống, làm tiêu tan 2 thành phố lớn và quan trọng về chiến tranh của Nhật là Hiroshima và Nagasaki.

* Pháp và Nhật không còn cai trị Việt Nam nữa, Việt Nam như một cái nhà bỏ không vì chính phủ Trần Trọng Kim không có Bộ Quốc Phòng, không có quân đội, chỉ làm được việc khi còn quân đội Nhật bản đứng đằng sau lưng mà thôi. Thế là hai lực lượng : Một bên là Mặt Trận Việt Minh của Đảng Cộng Sản, với Hồ Chí Minh là Lãnh Tụ,ï lãnh đạo về chính trị, liên lạc với quốc tế, có Võ Nguyên Giáp lãnh đạo lực lượng quân sự, còn một bên là Đại Việt Quốc Gia Liên Minh, một Mặt Trận quốc gia bao gồm nhiều Đảng Phái mà nòng cốt là Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Xã, tranh nhau giành chính quyền.

Như trên đã nói, Mặt Trận Việt Minh, do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, với lãnh tụ là Hồ Chí Minh, cán bộ cộng sản quốc tế, mưu mẹo, thủ đoạn ghê gớm, cộng sản lại có nhiều cán bộ, đảng viên được huấn luyện thuần thục, có cơ sở ở khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê cho nên lúc này, cộng sản nhanh tay hơn, chỉ huy các cuộc nổi dậy cướp chính quyền ở hầu hết khắp nơi, ở Tỉnh Thành cũng như ở các Phủ Huyện. Chỉ từ 15 đến 19 tháng 8- 1945, bộ máy chính quyền mới coi như nằm gọn trong tay Việt-Minh Cộng Sản. Ngày 25 tháng 8 Vua Bảo Đại thoái vị ( abdicated ), chính phủ Trần trọng Kim bị giải tán và Chính Phủ lâm Thời ( Temporary / provisional Government ) do Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch ( President ) , có các nhân vật thuộc cơ quan OSS của Hoa Kỳ đứng bên cạnh ( September 2- 1945, in Hanoi, with American OSS Officials at his side, Ho Chi Minh Proclaims The Independent Democratic Republic of Vietnam... ) ra mắt dân chúng Hà Nội ngày 2 tháng 9 – 1945, trong bầu không khí Cách Mạng, giải phóng dân tộc sôi nổi như muốn làm vỡ tung Hà Nội, và Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời từ giờ phút đó ... Hoa Kỳ thì phân vân, khó xử : không muốn chế độ thuộc thuộc địa của Pháp tồn tại, nhưng Hoa Kỳ cũng không muốn Việt Nam rơi vào quỹ đạo của Phong Trào cộng sản Quốc Tế, một mối đe dọa còn nguy hiểm hơn cả Phát Xít Đức - Ý - Nhật nữa (... the U.S. Government at this time is in a quandry : not wanting to support French colonialism but not wanting to turn Vietnam over to a Communist Administration... ), nhưng buết làm sao vào lúc này ?

Mặt Trận Việt Minh, do Cộng Sản lãnh đạo, với lãnh tụ là Hồ Chí Minh, , cán bộ cộng sản quốc tế, lão luyện kinh nghiệm đấu tranh, quyết định hành động cướp chính quyền một cách mau lẹ trong lúc tình hình Việt Nam như một căn nhà vô chủ. Các Đảng phái quốc gia không theo kịp chuyện đó nên đã bỏ mất cơ hội ngàn năm một thuở,û để cho Dân Tộc Việt Nam phải đắm chìm trong bể khổ cho tới tận bây giờ ...

San Diego, California

Phan Đức Minh
http://www.nguoiviet4phuong.com/anhduong/index.php?option=com_content&task=view&id=385&Itemid=1&limit=1&limitstart=3

Bí Mật Về Ngày 20-07 : chia đôi đất nước ...

Bí Mật Về Ngày 20-07 (phần 1) : chia đôi đất nước ...

Nhà biên khảo Trần Đông Phong





Tại sao lại có ngày 20 tháng 07 - ngày chia đôi Việt Nam? Ai áp lực Việt gian cộng sản phải chấp nhận giải pháp chia đôi đất nước? Bí mật này được tiết lộ qua cuốn sách mới nhất được xuất bản tại Trung Quốc do thư ký của cố thủ tướng Chu Ân Lai viết lại. Bí mật ngày 20-07 được quyết định tại hội nghị 3 ngày ở Liễu Châu với sự tham dự của Chu Ân Lai, Vi Quốc Thanh, Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáo. Xin mời quý bạn đọc theo dõi buổi nói chuyện về tài liệu này của nhà biên khảo Trần Đông Phong.
Xin bấm vào đây để nghe
Xin bấm vào đây để lấy xuống nghe

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=2255

jeudi 2 août 2007

Tranh Chấp Ở Trường Sa: Hậu Quả Của Những Sai Lầm Chiến Lược.

Thứ Ba, ngày 31 tháng 7 năm 2007
Tranh Chấp Ở Trường Sa: Hậu Quả Của Những Sai Lầm Chiến Lược.


--------------------------------------------------------------------------------
• Trương Nhân Tuấn
Toà nhà quân sự của Trung Quốc trên đảo Trường Sa. AFP PHOTO


I.- Những nạn-nhân trực-tiếp :

Theo tin tức báo chí loan tải ngày 20 tháng 7 năm 2007 « tàu hải quân Trung Quốc hôm 9/7 đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách Sài Gòn 350km làm cho một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương ». Ngày hôm sau các đài BBC, RFA xác nhận tin này sau khi trích bản tin của hãng tin Kyodo của Nhật Bản. Trên bản-đồ, địa-điểm xảy ra biến-cố thuộc vùng biển ở giữa vùng Trường-Sa và bờ biển Việt-Nam.

Biến-cố xảy ra đã 2 tuần-lễ nhưng phía Việt-Nam và Trung-Quốc hoàn-toàn im-lặng (cho đến thời-điểm viết bài này). Việc im lặng của hai phía đã không làm người ta ngạc-nhiên. Cả hai (tức hai đảng cộng-sản) chỉ giải-quyết vấn-đề theo lối « anh em đóng cửa dạy nhau », không cho người ngoài xen vào, nhưng mọi người đều biết là anh ba Trung-Quốc luôn « giao-thiệp nghiêm-khắc » với đám em út Việt-Nam.

Nhớ lại biến-cố vịnh Bắc-Việt ngày 8 tháng 1 năm 2005, hải-quân Trung-Cộng « giao thiệp nghiêm khắc » xả súng bắn chết 9 ngư-dân Việt-Nam cư-ngụ tại các làng chài lưới vùng Thanh-Hóa, bắt đi 8 người khác và tịch-thu một thuyền đánh cá (xảy ra ở điểm có tọa-độ 19° 16’ vĩ-độ Bắc và 107° 06’ kinh-độ Đông, chiếu theo hiệp-định phân-định vịnh Bắc-Bộ tháng 12 năm 2000, điểm này thuộc hải-phận Việt-Nam). Rõ ràng đây là hành động của hải-tặc. Hải-quân Trung-Quốc xâm-phạm chủ-quyền của Việt-Nam lại còn giết người, cướp của, nhưng phía Trung-Quốc « nghiêm-khắc » dạy nhà-nước VN rằng chính những ngư-nhân Thanh-Hóa mới là hải-tặc. Vụ việc này đến hôm nay không ai biết được đã giải-quyết ra sao, các nạn-nhân được đền bồi thế nào ?

Ngày hôm nay những ngư-dân Việt-Nam đánh cá trong vùng biển của mình cũng bị Trung-Quốc « nghiêm khắc giao thiệp » bằng súng ống. Biến-cố xảy ra tại vùng biển cách Sài-Gòn 350km, tức cách bờ biển VN khoảng 250km, tức ở giữa vùng Trường-Sa và bờ biển Việt-Nam. Vị-trí này nằm trên thềm lục-địa của Việt-Nam chứ không thuộc hải-phận (nếu có) của các đảo thuộc Trường-Sa. Nên biết, việc xảy ra trong vùng biển này không phải chỉ mới lần đầu mà đã có nhiều lần tương-tự trong quá-khứ. Điều 1 của bộ « luật biên giới quốc gia » năm 2003 qui-định : « Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ». Điều luật liên-quan đến Hoàng-Sa và Trường-Sa phù-hợp với lịch-sử Việt-Nam và thực-tế công-pháp quốc-tế. Các ngư-nhân Việt-Nam đánh cá trong vùng biển xảy ra biến-cố là đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt-Nam.

Tuy-nhiên, Đại-Tá Lê Phúc Nguyên, phó Tổng-Biên-Tập báo Quân-Đội Nhân-Dân, trả lời phỏng-vấn với báo The Straits Times (Tân-Gia-Ba) được BBC ghi lại ngày 19 tháng 7: « Ngư dân rất khó mà biết được đâu là lằn ranh chính xác giữa hai bên. Thế nhưng không nên dùng vũ lực trên biển vì việc này sẽ chỉ dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn mà thôi »

« Lằn ranh » mà ông Nguyên nói là lằn ranh nào ? Đã có phân-định lãnh-hải chưa mà nói đến « lằn ranh » ? Lãnh-hải chưa phân-định sao lại nói đến « lằn ranh chính xác giữa đôi bên » ? Nhưng khi nói đến « phân-định » thì đã gián-tiếp công-nhận tính hợp-lý và hơp-pháp của đối-tượng tranh-chấp. Bọn cướp vào cướp đất, cướp đảo, cướp biển của mình, bây giờ mình « phân-định » với nó, vạch ra « lằn ranh », mình một bên, nó một bên à ? Phát biểu của ông Nguyên không khác những lời phát-biểu ngu-xuẫn, thiển-cận, theo lối tự bắn vào chân mình, của các viên-chức cao-cấp như Ung Văn Khiêm, Lê Lộc (1956) và Phạm Văn Đồng (1958) dưới thời Hồ Chí Minh. Một trong các chứng-cớ mà Trung-Quốc dựa lên để đòi hỏi chủ-quyền Hoàng-Sa và Trường-Sa là các lời tuyên-bố hàm-hồ, vô trách-nhiệm của các ông này. Nay mai sẽ có thể có tên của ông đại-tá Nguyễn Phúc Nguyên trong danh-sách ấy !

Ông Nguyên cũng nói « không nên dùng vũ lực trên biển vì việc này sẽ chỉ dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn mà thôi ». Trung-Quốc thường-xuyên dùng vũ-lực trên biển nhưng đã dẫn đến « vấn-đề nghiêm-trọng » nào ? Đài-Loan cách đây không lâu cũng tập-trận bằng đạn thật trên đảo Ba-Bình (Itu Aba, thuộc Trường-Sa), xây ra-đa, làm lại phi-trường, công-sự chiến-đấu… trên đảo nhưng Việt-Nam đã làm được gì Đài-Loan ? Phía Nam-Dương cũng thế, vừa rồi bắn chìm thuyền và gây tử thương nhiều ngư dân VN, nhưng có việc nào « nghiêm-trọng » đã xảy ra đâu ? Thực sự sẽ không có việc gì nghiêm-trọng xảy ra cả, lý-do rất đơn-giản : Việt-Nam không có một khả-năng đối-kháng nào, hải-quân Việt-Nam đối với Trung-Quốc, Nam-Dương, Đài-Loan… là đứa bé sơ-sinh trước những anh khổng-lồ.

Ở một nước mà nhà-nước có trách-nhiệm, các biến-cố (tai-nạn) tương-tự đều được giải-quyết một cách minh-bạch và theo luật-pháp, các nạn-nhân phải được đền-bồi đầy đủ, quốc-gia phía sai-quấy phải có công-hàm chính-thức xin-lỗi gia-đình và quốc-gia các nạn-nhân. Ở đây ta thấy nhà-nước Việt-Nam, dầu đã tỏ ra rất côn-đồ trong việc giải-quyết các vụ dân oan bị cán-bộ đảng cộng-sản cướp đất trong những ngày trung tuần tháng 7-2007 vừa qua, nhưng lại tỏ ra khiếp-nhược đến mức hèn-hạ trước những nước hùng-mạnh khác. Có nhiều triệu-chứng cho thấy biến-cố ngày 9 tháng 7 năm 2007 sẽ như biến-cố trong vịnh Bắc-Việt ngày 8 tháng 1 năm 2005. Những nạn-nhân vô-tội sẽ bị Trung-Quốc vu-cáo là hải-tặc, rồi mọi việc sẽ chìm vào quên lãng.

Chúng ta cũng không thể không nhắc đến những vạt dầu không biết từ đâu liên-tục trong nhiều tháng (đầu năm 2007) từ ngoài khơi tràn vào bờ biển miền Trung VN, chạy dài từ Quảng-Bình cho đến Phan-Thiết, gây ô-nhiễm môi-sinh và làm thiệt-hại lớn lao cho kinh-tế của những người dân sống trong vùng. Nhà-nước VN hôm nay vẫn không biết nguồn-gốc các vết dầu loan ấy đến từ đâu. Vừa qua ông thủ-tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng sẽ nhờ Nhật-Bản truy-tầm nguồn các vết dầu đã gây ô-nhiễm ấy nhưng đến nay chưa thấy công-bố kết-quả. Chắc-chắn các vệ-tinh của Nhật-Bản không mù-lòa và bất-lực như nhà-nước VN. Họ đã biết các vạt dầu ấy từ đâu đến, nhưng nhà-nước VN không công-bố vì sợ phản-ứng mạnh của Trung-Quốc.

Qua các lời tố-cáo trước đây, tháng 5 năm 1992, TC ký với công ty Crestone, Hoa Kỳ để tìm dò một khu-vực 25.000 km2 thuộc lãnh-hải Việt-Nam, nằm về phía tây quần-đảo Trường-Sa (thuộc bãi Tu-Chính, không thuộc nhóm Trường-Sa) và chỉ cách bờ biển Việt-Nam khoảng 250Km. Tháng 3 năm 2004 Trung cộng mang dàn khoan KANTAN 3 vào trong hải-phận Việt-Nam, thuộc vùng cửa vịnh Bắc-Việt để thăm-dò. Khu-vực mục tiêu nằm ở tọa độ 17 độ 25’ 42 ‘’, vĩ độ Bắc, 108 độ 19’05’’ kinh độ Đông, cách bờ biển Việt-Nam 63 hải-lý, và cách đảo Hải-Nam 67 hải-lý. Tháng 8 năm 2006, Trung-Quốc đã cho khai-thác giếng dầu Hóa-Quang, thuộc khu-vực Hoàng-Sa, cách Đà-Nẵng 230km v.v…

Phía Việt-Nam có lên tiếng phản-đối lấy-lệ nhưng Trung-Quốc đã bất-chấp những phản-đối này và ngang-nhiên khai thác những mỏ dầu trên thềm lục-địa Việt-Nam hoặc thuộc lãnh-hải Việt-Nam.

Như thế, chắc-chắn là các giếng dầu của Trung-Quốc khai-thác đã làm tràn dầu gây ô-nhiễm cho bờ biển các tỉnh miền Trung của Việt-Nam. Vấn-đề đặt ra : Chủ-quyền vùng khai-thác đã xác-định chưa ? Việt-Nam sẽ phản-ứng ra sao nếu vùng Trung-Quốc hiện khai-thác thuộc Việt-Nam ? ai sẽ bồi-thường những thiệt-hại cho dân-chúng và tái-tạo lại môi-trường bị ô-nhiễm tại các vùng bị dầu loang ?

II.- Trung-Quốc và quan-niệm "không-gian sinh-tồn".

1/ Không-gian sinh-tồn, tạm dịch từ “L’Espace Vital”, tác-phẩm nghiên-cứu về “địa-lý chính-trị” – Géopolitique – nổi tiếng của Ratzel xuất-bản năm 1902, đề-cập 7 định-luật liên-quan đến sự bành-trướng của một quốc gia: Định-luật 1. Không-gian (sinh-tồn) của một dân-tộc được mở rộng đồng-thời với văn-minh của dân-tộc đó. Một dân-tộc có nền văn-minh tiến-bộ sẽ đồng-hóa các dân-tộc kém văn-minh hơn. 2. Lãnh-thổ quốc-gia sẽ phát-triển theo tỉ-lệ thuận với sức mạnh kinh-tế và đội-ngũ thương-buôn của quốc-gia cũng như chủ-thuyết phát-triển quốc-gia. Việc bành-trướng vì thế chỉ tùy-thuộc vào ý-chí và phương-tiện. 3. Việc bành-trướng của một đế-quốc được thực-hiện qua cách « hấp-thụ và tiêu-hóa » các nước nhỏ. 4. Đường biên-giới quốc-gia không xác-định (frontière vivante). Biên-giới xác-định chỉ có giá-trị tạm-thời, chỉ để đánh dấu giữa hai giai-đoạn bành-trướng. 5. Trong quá-trình bành-trướng, đất (bây giờ là biển) là mục-tiêu chính. 6. Mục-tiêu bành-trướng là các quốc-gia yếu-kém ở kế-cận. Sự bành-trướng của đế-quốc không thể tiến-triển nếu quốc-gia lân-bang cũng là cường-quốc. 7. Hiện-tượng bành-trướng có khuynh-hướng lan rộng do việc tranh-dành lãnh-thổ của các quốc-gia.

Những nhà chiến-lược hiện-đại cho rằng lý-thuyết « địa-lý chiến-lược » của Ratzel là sơ-khai, lỗi-thời, tuy-nhiên, ở một số điểm cơ-bản lý-thuyết này vẫn còn nguyên giá-trị cho đến ngày nay. Tranh chấp lãnh-thổ Do-Thái và Palestine là một thí-dụ điển-hình. Lý-thuyết này cũng đã ảnh-hưởng rất sâu-đậm lên nhiều thế-hệ lãnh-đạo Trung-Hoa, như Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào v.v… Tưởng Giới Thạch có tuyên-bố về « không-gian sinh-tồn » của Trung-Quốc như sau : « le territoire de l’Etat chinois est délimité par les besoins de son exitance et par les bornes de sa culture » , lãnh-thổ của Trung-Quốc định-nghĩa theo họ Tưởng là được xác-định bằng văn-minh cũng như những cần thiết để dân-tộc này hiện-hữu. Như thế bao gồm hầu hết các nước Đông-Nam Á. Các học-giả Tây-Phương gọi Trung-Quốc là một « Empire sans voisin », một đế-quốc không có nước láng-giềng.

Lý-thuyết của Ratzel cũng ảnh-hưởng đến một số các lãnh-tụ đảng-phái quốc-gia Việt-Nam.

Mặt khác, ngoài lý-thuyết của Ratzel, các nhà lãnh-đạo Trung-Quốc sau này cũng ảnh-hưởng sâu đậm đến lý-thuyết của Alfred Mahan (1840-1904) về địa-lý chính-trị. Bài học bị phân-liệt bắt đầu từ 1840, kéo dài đến cả trăm năm đã làm cho nhiều lớp trí-thức ái-quốc Trung-Hoa ý-thức được cái hay của học-thuật Tây-Phương. Theo lý-thuyết này hải-quân đóng vai-trò trọng-yếu trong quá-trình bành-trướng của một quốc-gia.

Từ 1949 đến nay Trung-Quốc đã nỗ-lực liên-tục để hiện-đại hóa hải-quân của họ.

2/ Bảy định-luật của Ratzel, ngoài định-luật số 2, hoàn-toàn chứng-nghiệm cho dân-tộc Hán từ lập-quốc đến ngày hôm nay. Định-luật 1 : Nền văn-minh Hán-Tộc đã đồng-hóa tất cả các dân-tộc khác, kể các các dân-tộc dũng-mãnh đã chiếm-hữu và trị-vì Trung-Quốc. Văn-hóa các dân-tộc Mãn-Châu, Mông-Cổ, Liêu, Kim… đã không còn dấu vết ở Trung-Quốc. Định-luật 3 : Dân-tộc Hán luôn bành-trướng và tiêu-diệt (hay Hán-hóa) tất-cả các dân-tộc khác. Hiện nay việc đồng-hóa đang được thực-hiện ráo-riết tại Tây-Tạng. Đặc-biệt hai định-luật số 5 và 6 phản-ảnh rõ-rệt thái-độ bành-trướng của Trung-Quốc ngày hôm nay : Trung-Quốc xem vùng biển Đông của Việt-Nam là « không-gian sinh-tồn » của dân-tộc Hán ; Trung-Quốc không bao giờ muốn thấy một Việt-Nam giàu mạnh. Một nước Việt-Nam giàu, mạnh sẽ ngăn-cản sức bành-trướng của Trung-Quốc.

Các thế-hệ lãnh-đạo Trung-Quốc từ đầu thế-kỷ 20 cho đến nay đều có chung quan-điểm này. Họ luôn tìm cách làm cho Việt-Nam suy-yếu để thực-hiện nhu-cầu bành-trướng. Mục-tiêu trước tiên là chiếm biển Đông và kéo Việt-Nam vào vòng ảnh-hưởng của họ. Ta thấy Nam-Hàn, Nhật-Bản đã ý-thức hiểm-họa đến từ Trung-Quốc. Hai nước này muốn hiện-hữu phải « mạnh », hay phải dựa vào một thế lực mạnh. Theo thuyết của Samuel P. Huntington về « Sự Đụng-Độ của các nền văn-minh », nguyên-nhân đụng-độ đến từ tranh-chấp biển Đông, sau đó Nhật-Bản ngả về phía Trung-Quốc, lúc đó là một đại-cường. Lý-thuyết này phần nhiều chủ-quan, nhưng không thể bỏ qua. « Chủ-Nghĩa nước nhỏ » vì thế sẽ không thể hiện-hữu được ở các nước láng-giềng của Trung-Quốc. Định-mạng đã xếp dân-tộc Việt-Nam ở kế-cận Trung-Quốc, vì thế phải thật khéo-léo. Nếu Việt-Nam không đủ mạnh thì phải dựa vào một thế-lực mạnh khác (như trường-hợp Đại-Hàn, Đài-Loan và Nhật-Bản) để tự-vệ, nếu không chắc-chắn sẽ không tránh được hấp-lực của Trung-Quốc.

3/ Trung-Quốc không muốn một Việt-Nam thống-nhất và mạnh. Trong thời chiến-tranh 1954-1975 mọi người đều biết Trung-Quốc sẵn-sàng giúp súng-đạn cho CSVN đánh Mỹ đến người Việt-Nam cuối cùng. Ngay sau khi thống-nhất 1949, Trung-Quốc có cả một sách-lược đào-tạo các cán-bộ tương-lai lãnh-đạo Việt-Nam. Đỗ Mười và Lê Đức Anh cũng thuộc đội-ngũ cán-bộ này. Vì thế chính-trị đối-ngoại của Việt-Nam trong một thời-gian rất dài luôn phù-hợp với quan-niệm địa-lý chiến-lược của Trung-Quốc. Người ta ca-ngợi nhiều về tư-tưởng của ông Hồ Chí Minh (vận-dụng từ tư-tưởng quốc-tế Marx-Lenin), cho nó có một giá-trị thực-dụng dựng nước bất-khả tranh-nghị và đưa nó lên hàng tư-tưởng chiến-lược phát-triển quốc-gia. Nhưng đây là một sai lầm lớn, vì nếu xét tỉ-mỉ thì tư-tưởng của ông Hồ luôn phù-hợp với chính-sách bành-trướng của Trung-Quốc. Người ta cho rằng ông Hồ là người « yêu nước », nhưng quan-niệm về quốc-gia của ông Hồ là một cái gì rất không rõ-rệt : « Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa ». Nhiều học-giả nước ngoài phê-bình Việt-Nam lấy đất nước để xây dựng XHCN trong khi Trung-Quốc lấy XHCN xây-dựng đất nước. Trong tư-tưởng của ông Hồ người ta thấy thấp-thoáng một « chủ-nghĩa nước nhỏ », đu giây giữa hai thế-lực áp-đảo là Liên-Xô và Trung-Quốc, khai-thác những mâu-thuẩn của hai thế-lực này để thực-hiện mưu-đồ cá-nhân và làm tròn bổn-phận của một thành-viên quốc-tế vô-sản gương-mẫu. « Chủ-nghĩa nước nhỏ » của ông Hồ đã trở thành «chủ-nghĩa chư-hầu », cam chịu lệ-thuộc, làm tay chân cho Nga và Tàu bành-trướng chủ-nghĩa hơn là tự-chủ và độc-lập dân-tộc. Việt-Nam đã có lần mang danh « thành đồng cách-mạng vô-sản » là một bằng-chứng. Nhưng vấn-đề của ông Hồ không nằm trong phạm-vi bài viết này.

Trung-Quốc cũng là một trong những tác-nhân chánh trong vấn-đề Việt-Nam chia cắt tại vĩ-tuyến 17. Theo nhiều nhân-chứng ghi lại, trong cuộc-chiến (1954-1975) phía Bắc-Kinh luôn chủ-trương 2 nước Việt-Nam và họ đã làm nhiều thủ-thuật để gây trở ngại cho phe miền Bắc trong các chiến-dịch tiến-công miền Nam. Ngay sau khi Hoa-Kỳ rút khỏi miền Nam, trong những ngày cuối cùng, Bắc-Kinh đề-nghị với một số lãnh-đạo miền Nam, thông qua tòa đại-sứ Pháp, Trung-Quốc sẽ dàn quân trên biên-giới Việt-Trung làm áp-lực, ép Hà-Nội rút quân và ngồi vào đàm-phán. Làm thế vì Trung-Quốc không bao giờ muốn một Việt-Nam thống nhất.

Sau 1975, chủ-trương của Trung-Quốc là muốn có một Việt-Nam suy-yếu ở phía Nam. Trong khoảng thời-gian 1975-1978 Việt-Nam say men chiến-thắng, dựa vào Liên-Xô hống-hách với Trung-Quốc. Trung-Quốc liên-minh với Hoa-Kỳ bao vây Việt-Nam, ngăn-chắn sự bành-trướng của Liên-Xô. Cuộc chiến 10 năm Kampuchia, Đặng Tiểu Bình giúp-đỡ tận-tình Khmer đỏ, chủ-trương « làm cho VN chảy máu đến chết ». Đây là cái bẩy hiểm-độc mà Đặng Tiểu Bình gài cho lớp lãnh-đạo « phản-phúc » ở Hà-Nội. Theo nguyên thứ-trưởng bộ Ngoại-Giao Trần Quang Cơ, qua hồi-ký năm 2002, đây là một thất-bại vô cùng lớn về ngoại-giao của Việt-Nam. Đúng ra đây không phải là một thất bại ngoại-giao, mà phải nói là một sai lầm chiến-lược của nhóm lãnh-đạo Hà-Nội.

Thực-tế và lịch-sử cho thấy Khmer đỏ của tập-đoàn Pol Pot là một lũ diệt-chủng, cả thế-giới kinh-tởm và lên án. Hiện nay có nhiều nỗ-lực vận-động một tòa-án đặc-biệt để xử các hung-thần Khmer đỏ hiện còn sống-sót nhưng còn gặp nhiều trở ngại. Lý ra, khi can-thiệp vào Kampuchia, Việt-Nam đã có vai trò của một anh hùng cứu dân độ thế. Thế nhưng hầu như cả thế-giới lúc đó chống lại Việt-Nam. Thái-độ hung-hăng của Việt-Nam, quá thân Liên-Xô, đòi đánh cả Thái-Lan, đã làm cho khối ASEAN và Hoa-Kỳ ủng-hộ lập-trường Trung-Quốc, giúp Khmer đỏ, bao-vây Việt-Nam về mọi mặt . Hậu-quả sai-lầm này vẫn còn ảnh-hưởng sâu-đậm đến Việt-Nam hôm nay.

4/ Lãnh-đạo CSVN không có viễn-kiến. Khi Liên-Xô sụp-đổ đầu thập niên 90, thay vì nhanh-chóng lập quan-hệ ngoại-giao với Hoa-Kỳ, thiết-lập trục chiến-lược Do-Thái - Ấn-Độ - Việt-Nam – Nhật-Bản để tìm thế đối-trọng, lãnh-đạo Việt-Nam lại quyết-định khấu đầu hướng về thiên-triều, liên-kết với Trung-Quốc để bảo-vệ thành-trì xã-hội chủ-nghĩa, xem Hoa-Kỳ là kẻ thù chiến-lược. Đây là một sai-lầm về chiến-lược khác của Hà-Nội, đã dẫn Việt-Nam vào vòng kềm-tỏa của Trung-Quốc, kéo đất nước trì-trệ thêm hàng thập niên so với các nước trong vùng. Theo hồi-ký Trần Quang Cơ, thủ-phạm của sai-lầm chiến-lược lần này là Đỗ Mười và Lê Đức Anh.

Trong việc giao-thương với Hoa-Kỳ, Trung-Quốc luôn tìm cách phá-bỉnh, vụ ngưng ký hiệp-ước thương-mãi với Hoa-Kỳ, để cho Trung-Quốc ký trước, năm 2000 là một thí-dụ. Trung-Quốc không muốn Việt-Nam có quan-hệ chặt-chẽ với Hoa-Kỳ. Trung-Quốc biết rằng chỉ có Hoa-Kỳ mới có thể giúp Việt-Nam phát-triển bắt kịp các nước rồng, hổ trong vùng.

Khuynh-hướng chính-trị hiện nay của đảng CSVN thông qua ông Nông Đức Mạnh, là tiếp nối con đường của Đỗ Mười và Lê Đức Anh, đã làm Việt-Nam trì-trệ hàng 20 năm và đẩy Việt-Nam lệ-thuộc ngày thêm sâu-đậm vào Trung-Quốc. Công việc chính của ông Tổng Bí-Thư họ Nông là xem việc nhà, việc làng to hơn việc đảng, xem việc đảng to hơn việc quốc-gia. Việt-Nam sẽ phải trì-trệ thêm nhiều năm nữa.

5/ Bành-trướng ra biển Đông.

Ngoài mục-tiêu phải làm Việt-Nam suy-yếu, Trung-Quốc hiện-đại hoá quân-đội của họ, nhất là hải-quân, để bành-trướng ra biển Đông.

Năm 1949, Trung-Quốc cho công-bố một bản-đồ, trong đó lãnh-hải của Trung-Quốc bao gồm tất cả các đảo Đài Loan, quần đảo Senkaku (Điếu-Ngư), Pescadores (Bành-Hồ), Pratas (Đông-Sa), Macclesfield Bank (Trung-Sa), Paracel (Tây-Sa tức Hoàng Sa của Việt-Nam) và Spratley (Nam-Sa, tức Trường Sa của Việt-Nam). Đường xác-định lãnh-hải chỉ cách bờ biển của Việt-Nam, Phi-Luật-Tân, Mã-Lai, Brunei khoảng 50 đến 100km. Năm 1974, Trung-Quốc sử-dụng vũ-lực tấn-công Hoàng-Sa và chiếm quần-đảo này từ tay Việt-Nam Cộng-Hòa. Tháng 3 năm 1988, Trung-Quốc cho tàu đổ bộ vào chiếm 6 rạng đá nhỏ vùng rạng đá Chữ Thập (Recif Croix de Feu – Fiery Cross), bắn chìm 3 tàu Việt-Nam, gây thiệt mạng 74 chiến-sĩ. Vào tháng 2 năm 1992, Trung-Quốc ra Luật Lãnh-Hải Trung Quốc (Chinese Territorial Waters Law) qui-định rõ các đảo và quần-đảo nói trên thuộc Trung-Quốc. Ngày 21 tháng 5 cùng năm, Đài-Loan ra luật lãnh-hải có nội-dung tương-tự. Nói thêm là trong vụ đánh chiếm các vị-trí của Việt-Nam tại bãi Chữ-Thập, Trung-Cộng đã được quân Đài-Loan đóng tại đảo Ba-Bình giúp-đỡ về vật-chất như nước uống. Trung-Quốc đã cho xây tại đây một căn-cứ quân-sự có dạng tương-tự như một chiếc hạm. Năm 1992, Trung-Cộng đánh chiếm thêm một vị-trí của VN trên Trường-Sa là đảo d’Eldad Reef (đá En Đát), tổng-số đảo chiếm đóng là 9. Tháng 2 năm 1995, Trung-Quốc cho xây công-sự trên vùng bãi đá Vành-Khăn (Mischief), giống như công-sự xây trên đá Chữ Thập.

Hiện nay hải-quân Trung-Quốc có khoảng 76 chiến hạm (so với Hoa-Kỳ là 100 chiến hạm và 11 mẫu-hạm) nhưng khôngTrung-Quốc không có hàng-không mẫu hạm nào. Trung-Quốc cũng có khoảng 60 tàu ngầm, một số tàu này được trang-bị hỏa-tiễn siêu-thanh của Nga để tấn-công hàng-không mẫu hạm. Nhưng việc so-sánh hải-quân hai nước Hoa-Kỳ và Trung-Quốc sẽ khập-khểnh. Mục-tiêu của Trung-Quốc chỉ ở biển Đông, Đài-Loan và Châu Á trong khi mục-tiêu Hoa-Kỳ là giữ vị-trí hàng đầu thế-giới. Trung-Quốc không ngừng tăng ngân-sách quốc-phòng. Những năm sau này, mức gia-tăng mỗi năm là 18%. Năm 2005, Trung-Quốc tuyến-bố chi 45 tỉ đô-la cho quốc-phòng, nhưng thực ra con số này lớn hơn rất nhiều. Trung-Quốc hiện nay cũng có nhiều tàu đổ bộ, có khả năng vận chuyển 150 người với vận-tốc 120km/giờ và họ đang nghiên cứu tàu đổ bộ 450km/giờ chuyên-chở 500 người. Đảo Phú-Lâm (Hoàng-Sa) được xây phi-đạo dài 2.800m, xây nhiều nhà hầm chứa phi-cơ có khả năng chứa hơn 20 phi-cơ SU 27. Khu đá Vành-Khăn cũng được xây-dựng lại ; vị-trí thiên-nhên của bãi đá này (dài 8km, rộng 6,5km) trung-tâm là vùng nước sâu và êm, có thể được dùng làm cảng trú-ẩn của một hàng-không mẫu-hạm, chung-quanh được bao bọc bằng các công-sự chiến-đấu. Vì thế, với khả-năng hiện có, hải-quân Trung-Quốc có thể chiếm và giữ bất-kỳ một vị-trí nào trên biển Đông.

Trung-Quốc bành-trướng như thế, trên đất thì lấn đất, dưới biển thì dành biển, cướp hải-đảo. Hiện nay việc phân-định biên giới trên đất liền vẫn chưa xong, nguyên-nhân đưa đến sự trì-trệ này là vì Trung-Quốc đòi chủ-quyền tại một vùng đất thuộc Việt-Nam, vùng này có mỏ urani .

III.- Thái độ của Việt-Nam ra sao ?

Việt-Nam hoàn-toàn bất-lực, chỉ dựa vào chính-trị để xoa-dịu Trung-Quốc. Vũ khí duy-nhất để Việt-Nam tự-vệ hiện nay là…. Qui-Tắc Hành-Sử 2000.

« Qui-Tắc Hành-Sử - Code de Conduite » đã được các nước ASEAN đề-nghị vào tháng 3 năm 2000 với các nước có tranh-chấp tại Trường-Sa – đặc-biệt là với Trung-Quốc - có các nguyên-tắc như sau : Các nước quan-hệ cam-kết : 1/ không sử-dụng vũ-lực và giải-quyết những tranh-chấp bằng những nỗ-lực hòa-bình. 2/ Cam-kết giữ nguyên-trạng (statue quo) và không làm điều gì có thể gây trở-ngại thêm (những tranh-chấp tại Trường-Sa). 3/ Giữ những quan-hệ đối-thoại và trao đổi thông-tin giữa các bên. 4/ Ngưng mọi việc thăm-dò và khai-thác liên-quan đến dầu-hỏa và khí đốt. 5/ Thông-báo mọi cuộc thao-diễn quân-sự cũng như mọi cuộc chuyển quân trong vùng. 6/ Phi-quân-sự hóa và thay-thế những nhân-viên quân-sự tại đây bằng nhân-viên dân-sự. 7/ Hợp-tác trong chiều-hướng bảo-đảm an-ninh cho thuyền-bè qua lại trong vùng. 8/ Hợp-tác để chống hải-tặc và buôn bán trái phép ma-túy, vũ-khí. 9/ Hợp-tác trong các công-tác khoa-học và bảo-vệ môi-sinh. 10/ Tìm một giải-pháp đa-phương và thỏa-đáng cho các bên tranh-chấp.

Việt-Nam được các nước ASEAN chấp-nhận cho vào làm hội-viên năm 1991 vì lý-do bành-trướng thế-lực của Trung-Quốc tại biển Đông. Các nước nhận thấy sau khi Hoa-Kỳ ngó lơ các vụ xâm-lăng bằng vũ-lực của Trung-Quốc qua các vụ chiếm Hoàng-Sa (1974) và Trường-Sa (1988, 1992,1995). Trung-Quốc chiếm đảo Vành-Khăn gần Phi-Luật-Tân, trong khi Hoa-Kỳ bỏ Subic Bay ; biển Đông hoàn-toàn « giao » cho Trung-Quốc. Các nước ASEAN có nhu-cầu đoàn kết chống lại áp-lực và sức bành-trướng của Bắc-Kinh.

Qui-tắc này đã gây bất-lợi rất nhiều cho Việt-Nam vì các việc sau đây : Các nước Trung-Quốc và Đài-Loan luôn vi-phạm qui-ước này mà Việt-Nam không có phương-tiện trả đũa. Một thí-dụ khác bất-lợi cho Việt-Nam : Trong khi Trung-Quốc khai-thác bừa-bãi trên thềm lục-địa cũng như trong các vùng biển của Việt-Nam, phía Việt-Nam phản-đối nhưng Trung-Quốc vẫn tiến-hành việc khai-thác, không coi Việt-Nam và qui-ước hành-sử ra cái gì. Khi Việt-Nam cho khai-thác vùng Tu-Chính (trên thềm lục-địa Việt-Nam), Trung-Quốc đã lên tiếng phản-đối. Kế-hoạch hợp-tác giữa Việt-Nam với công ty xăng dầu BP của Anh Quốc trong việc xây-dựng hệ-thống dẫn khí đốt trong Biển Đông vừa mới ký-kết phải hủy-bỏ. Thí-dụ khác, Trung-Quốc và Đài-Loan liên-tục xây-dựng công-sự chiến-đấu trên các đảo mà họ kiểm-soát, vi-phạm trầm-trọng qui-tắc hành-sử, Việt-Nam hoàn-toàn bất lực trước các vi-phạm này.

IV.- Kết luận :

Vì sao Việt-Nam bất-lực đến mức không-thể khai thác tài-nguyên trong vùng biển của nước mình ? Vì sao Việt-Nam không đuổi được bọn cướp đến cướp đất, cướp biển của mình ? Vì sao người dân Việt-Nam đã không thể an-ổn làm ăn trên vùng biển mà từ ngàn xưa ông cha họ đã từng bỏ lưới đánh cá ở đó ?

Nguồn tin BBC đã dẫn ghi « Các nguồn tin quân sự nói ngày 9/7 hai tàu chiến cơ động BPS-500 của Việt Nam do Nga thiết kế đã vội vã đến hiện trường nhưng phải đứng từ xa vì hỏa lực quá mạnh từ tàu Trung Quốc.

Đại tá Nguyễn Phúc Nguyên nói: "Về lâu dài, chúng tôi cần củng cố lực lượng hải quân cũng như nâng cấp các đơn vị tuần tra ven biển."

Câu trả lời trước tiên là hải-quân Việt-Nam quá yếu, không có khả-năng bảo-vệ dân và nước. Họ chỉ đứng xa và ngó. Việt-Nam không còn thì giờ để « củng-cố lực-lượng hải-quân » như ông đại-tá Nguyễn Phúc Nguyên nói. Việt-Nam cũng không còn thì giờ để liên-minh chiến-lược với Ấn-Độ, cho dầu Ấn-Độ rất muốn trang-bị vũ-khí nguyên-tử cho Việt-Nam để đối-trọng với Pakistan trong vấn-đề đối-đầu với Trung-Quốc. Việc liên-minh này người ta đã nói đến từ lâu, nhưng lãnh-đạo VN chọn hướng thiên-triều.

Nguyên-nhân của tình-trạng tệ-hại ngày hôm nay rõ-ràng là do những sai lầm chiến-lược của nhiều thế-hệ lãnh-đạo Việt-Nam từ nhiều thập-niên qua. Nhiều vùng biển (và vùng đất) của Việt-Nam đã và đang âm-thầm đổi chủ, trở thành biển và đất của Trung-Quốc. Việc này không phải mới đây mà đã bắt đầu xảy ra từ thập niên 50, lúc ông Hồ Chí Minh còn sống.

Ông Hồ Chí Minh có trách-nhiệm rất lớn trong vấn-đề nhượng đất và biển cho Trung-Quốc . Vì hậu quả của những công-hàm ngoại-giao ký dưới thời ông Hồ mà Trung-Quốc mới có cớ xâm-chiếm Hoàng-Sa, một số đảo thuộc Trường-Sa và đòi hỏi toàn biển Đông thuộc chủ quyền của họ. Một số đất vùng biên-giới trên đất liền đã bị mất vào tay Trung-Quốc, điển hình là khu-vực Nam-Quan và thác Bản-Giốc, cũng mất dưới thời Hồ Chí Minh.

Tài-liệu « Con Hổ Và Thùng Dầu », nguyên tác Joachim Hoelzgen, Báo Spiegel Online, CHLB Đức, ngày 25.06.2007 do Phạm Việt Vinh chuyển ngữ, đăng trên Tổ-Quốc số 21 vừa rồi có viết : Thềm lục-địa của những quốc gia vùng Đông Nam Á, các dàn khoan càng ngày càng gặp nhiều khí đốt và dầu mỏ. Việt Nam là quốc gia gặp nhiều may mắn nhất: ở đây, các bãi dầu như một tấm thảm trải dài từ Bắc chí Nam- trong đó, có cả một „supergiant field“ (bãi dầu siêu khổng lồ) tầm cỡ như ở Ả Rập Xê Út. Chắc không ai muốn « các bãi dầu như tấm thảm trải dài từ Bắc chí Nam » của Việt-Nam thuộc về Trung-Quốc.

Việt-Nam không thể bó tay, bất-lực « từ xa đúng nhìn » như hiện-tại.

Lãnh-đạo Việt-Nam hãy tức-thời mở mắt, định-hướng lại chiến-lược quốc-gia, nhận rõ đâu là bạn đâu là thù, phải coi quyền lợi dân-tộc là tối-thượng. Tình-trạng này kéo dài là mất tất cả cho Tàu.

Trước mắt, nhà-nước VN lấy bớt ngân-sách cho công-an, giải-tán ít nhất 2/3 đám côn-đồ ức-hiếp dân này, thanh-lọc, chỉ chọn những người có ý-chí phục-vụ cho dân ; lấy lại ngân-sách dành cho tổng-cục 2 (nghe nói là làm tay sai cho Tàu) ; dẹp bỏ hệ-thống đảng-ủy song song với hệ-thống nhà-nước, dẹp đám đảng-viên ăn hại đát nát, ăn bám vào dân, là gánh nặng cho đất nước ; thanh-lọc lại toàn-bộ nhân-sự bộ Quốc-Phòng, tuyển những người trong sạch, có khả-năng quân-sự, tất-cả dồn vào hiện-đại hóa quân-đội, thì rất có thể không bao lâu Việt-Nam sẽ có khả-năng làm cho đối-phương nhượng-bộ./.

Trương Nhân Tuấn, Pháp quốc 28.7.2007